Nhân dịp này, Cơ quan Báo và Phát thanh, Truyền hình Hà Nội có cuộc trao đổi với Tiến sĩ Chu Thanh Tuấn, Phó Chủ nhiệm nhóm ngành Cử nhân Kinh doanh, Đại học RMIT Việt Nam, về những thách thức, cơ hội của ASEAN và dấu ấn mà Việt Nam có thể tạo dựng trong tiến trình phát triển của khu vực trong thập niên tới.
Một trong những nội dung được quan tâm tại Diễn đàn Tương lai ASEAN (AFF) 2026 là vai trò của các quốc gia thành viên trong việc định hình tương lai khu vực. Theo ông, Việt Nam có thể tạo dấu ấn gì trong tiến trình này ở thập kỷ tới?
Đại diện các thành phố ASEAN tham dự Hội nghị Lãnh đạo các Thành phố ASEAN trong khuôn khổ Diễn đàn Tương lai ASEAN 2026 diễn ra từ ngày 8 đến 10-6 tại Hà Nội. Ảnh: Viết Thành
Việt Nam có thể tạo dấu ấn riêng trong ASEAN bằng vai trò của một nước kiến tạo nghị trình, chứ không chỉ là một thành viên tham gia thụ động.
Điểm khác biệt của Việt Nam là khả năng kết hợp giữa phát triển, ổn định và tính chủ động trong chiến lược. Việt Nam hiểu sâu về giá trị của hòa bình, hội nhập và công nghiệp hóa, đồng thời có kinh nghiệm trong việc cân bằng quan hệ với các đối tác lớn.
Trong thập kỷ tới, dấu ấn của Việt Nam nên nằm ở ba không gian: thúc đẩy đối thoại chiến lược mở như AFF, dẫn dắt hợp tác Đồng bằng sông Cửu Long và đô thị thông minh, đồng thời đóng góp vào các chuẩn mực khu vực về kinh tế số, AI, kinh tế xanh và phát triển bao trùm. Đây là vai trò phù hợp với một Việt Nam đang trưởng thành về kinh tế và tự tin hơn trong ngoại giao.
Hiện ASEAN đang đứng trước những tác động ngày càng rõ nét từ cạnh tranh chiến lược giữa các cường quốc, đâu là thách thức kinh tế lớn nhất đối với khu vực trong những năm tới, thưa ông?
Theo tôi, thách thức kinh tế lớn nhất của ASEAN trong những năm tới không chỉ là suy giảm thương mại hay một cú sốc ngắn hạn nào đó, mà là nguy cơ bị cuốn vào quá trình phân mảnh kinh tế toàn cầu. Cạnh tranh chiến lược giữa các cường quốc đang làm thay đổi cách doanh nghiệp lựa chọn chuỗi cung ứng, công nghệ, dữ liệu, tiêu chuẩn xanh và dòng vốn đầu tư.
Với ASEAN, đây là bài toán rất nhạy cảm, bởi sự thịnh vượng của khu vực trong nhiều thập niên qua dựa trên một môi trường mở, nơi các nước có thể giao thương với nhiều đối tác mà không phải chọn bên.
Tôi muốn nhấn mạnh về nguy cơ bị cuốn vào quá trình phân tách kinh tế (decoupling) giữa các cường quốc, tức là việc ASEAN bị buộc phải lựa chọn giữa các hệ sinh thái thương mại, công nghệ và đầu tư khác nhau.
Chính ASEAN cũng thừa nhận trong Kế hoạch Chiến lược Cộng đồng Kinh tế ASEAN 2026-2030 rằng căng thẳng địa chính trị, dịch chuyển thương mại, chuyển đổi công nghệ, biến đổi khí hậu và thay đổi nhân khẩu học là những xu hướng lớn có tác động toàn diện đến khu vực.
Vì vậy, câu trả lời căn bản là ASEAN phải tăng tốc hội nhập nội khối, để không chỉ là “địa điểm thay thế” trong chuỗi cung ứng toàn cầu, mà trở thành một thị trường chung có năng lực tự thân, có tiếng nói và có khả năng thương lượng tập thể.
Trong bối cảnh ASEAN thúc đẩy xây dựng một cộng đồng tự cường và thích ứng. Theo ông, đâu là lĩnh vực ASEAN cần ưu tiên hợp tác nhất để nâng cao năng lực cạnh tranh của khu vực?
Tiến sĩ Chu Thanh Tuấn, Phó Trưởng nhóm ngày Cử nhân Kinh doanh, Đại học RMIT Việt Nam. Ảnh: RMIT
Nếu phải chọn một ưu tiên hợp tác để nâng cao năng lực cạnh tranh của cả khu vực, tôi cho rằng đó là hội nhập kinh tế số gắn với năng lực sản xuất khu vực.
ASEAN đã nói nhiều về tự cường, nhưng tự cường không có nghĩa là khép kín. Tự cường trong bối cảnh mới phải là khả năng kết nối nội khối nhanh hơn, tin cậy hơn và ít phụ thuộc hơn vào các nút thắt bên ngoài.
Do đó, Hiệp định khung ASEAN về Kinh tế số (DEFA) có ý nghĩa chiến lược. Đây là hiệp định kinh tế số toàn khu vực đầu tiên của ASEAN, bao trùm thương mại số, thương mại điện tử xuyên biên giới, quản trị dữ liệu, định danh số, thanh toán điện tử, an toàn trực tuyến, an ninh mạng, công nghệ mới nổi như AI và dịch chuyển nhân tài số. Nếu triển khai hiệu quả, nền kinh tế số ASEAN có thể đạt tới 2000 tỉ đô la Mỹ vào năm 2030.
Nhưng DEFA chỉ có ý nghĩa thực chất nếu đi cùng logistics, tiêu chuẩn chung, thanh toán xuyên biên giới, kỹ năng lao động và năng lực của doanh nghiệp nhỏ.
Tự cường của ASEAN phải được đo bằng khả năng của doanh nghiệp trong khu vực có thể bán hàng, gọi vốn, chuyển dữ liệu, bảo vệ sở hữu trí tuệ và mở rộng thị trường ngay trong ASEAN trước khi vươn ra toàn cầu.
Trí tuệ nhân tạo (AI) đang mở ra nhiều cơ hội nhưng cũng tạo ra không ít rủi ro. ASEAN cần hợp tác như thế nào để tận dụng hiệu quả cơ hội từ AI?
AI là một cơ hội lớn, nhưng nếu ASEAN không hợp tác đúng cách, AI cũng có thể làm sâu sắc thêm khoảng cách phát triển giữa các nước thành viên. Theo tôi, ASEAN nên tiếp cận AI như một hạ tầng phát triển, chứ không chỉ là một công nghệ thương mại.
Trước hết, cần có nguyên tắc chung về quản trị AI, bao gồm an toàn, minh bạch, bảo vệ dữ liệu cá nhân, trách nhiệm giải trình và khả năng kiểm tra thuật toán trong các lĩnh vực nhạy cảm như tài chính, y tế, giáo dục, hành chính công và an ninh mạng.
Thứ hai, ASEAN cần tránh tình trạng mỗi nước tự xây dựng một bộ quy định riêng khiến thị trường bị chia nhỏ. Một khuôn khổ công nhận lẫn nhau về các tiêu chuẩn AI sẽ giúp doanh nghiệp triển khai sản phẩm ở quy mô khu vực, đồng thời giảm chi phí tuân thủ.
Thứ ba, AI phải đi kèm với chính sách lao động. Những người lao động trong sản xuất, logistics, nông nghiệp, dịch vụ và hành chính sẽ chịu tác động rất lớn nếu đào tạo lại không theo kịp. Vì vậy, hợp tác AI của ASEAN phải có một trụ cột về kỹ năng số cho doanh nghiệp nhỏ, lao động phổ thông, phụ nữ và thanh niên.
Cách tiếp cận này cũng phù hợp với tinh thần AFF 2026, khi diễn đàn nhấn mạnh phát triển lấy con người làm trung tâm và tìm kiếm giải pháp để xây dựng một ASEAN mạnh hơn, tự cường hơn.
Để không chỉ là điểm đến của dòng vốn đầu tư mà còn trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo và tạo giá trị cao trong khu vực, Việt Nam cần tập trung vào những ưu tiên nào trong 5-10 năm tới?
Việt Nam muốn trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo và tạo ra giá trị cao trong ASEAN thì phải vượt qua mô hình tăng trưởng dựa chủ yếu vào lao động có chi phí cạnh tranh, đất công nghiệp và ưu đãi thuế. FDI vẫn rất quan trọng, nhưng câu hỏi mới là Việt Nam giữ lại được bao nhiêu giá trị trong chuỗi sản xuất đó.
Trong 5-10 năm tới, ưu tiên lớn nhất phải là nâng cấp năng lực nội sinh. Chiến lược bán dẫn của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn 2050 đặt mục tiêu hình thành ít nhất 100 doanh nghiệp thiết kế, một nhà máy sản xuất quy mô nhỏ, 10 nhà máy đóng gói và kiểm thử, doanh thu bán dẫn trên 25 tỉ USD mỗi năm, và đội ngũ hơn 50.000 kỹ sư, cử nhân phục vụ ngành trong giai đoạn 2024 đến 2030.
Đây là hướng đi đúng, nhưng phải đi cùng cải cách đại học, tăng đầu tư R&D, bảo vệ sở hữu trí tuệ, phát triển quỹ vốn mạo hiểm công nghệ sâu, và chính sách buộc liên kết thực chất giữa tập đoàn FDI với doanh nghiệp Việt Nam. Nếu chỉ thu hút nhà máy, Việt Nam vẫn sẽ là điểm đến đầu tư.
Và nếu làm chủ được nhân lực, dữ liệu, thiết kế, tiêu chuẩn, thương hiệu và mạng lưới đổi mới sáng tạo, Việt Nam mới có thể trở thành trung tâm tạo giá trị của ASEAN.
Xin trân trọng cảm ơn ông!
Đỗ Hương