Phó thủ tướng thường trực Nguyễn Hòa Bình cho biết chủ trương sắp tới không cho phép các trường đại học không chuyên đào tạo một số lĩnh vực đặc thù. Ví dụ, không cho phép trường không chuyên khoa luật đào tạo cử nhân luật mà chỉ được dạy luật như một môn phối hợp.
Nội dung này thu hút sự quan tâm của dư luận, khi cả nước có khoảng 100/242 cơ sở giáo dục đại học có đào tạo các ngành về luật. Số lượng trường đại học đào tạo ngành luật tập trung các trường đại học đa ngành, cả công lập và ngoài công lập.
Đào tạo Luật không dễ dãi, nhưng chưa đồng đều
Hiện tại, các sơ sở đào tạo cử nhân luật của Việt Nam được xếp thành 3 nhóm chính, gồm các trường đào tạo chuyên về luật; các trường luật thuộc đại học quốc gia và đại học vùng; các khoa luật trực thuộc các trường đại học đa ngành.
Ngoài ra, có một số cơ sở đào tạo cử nhân luật mang tính đặc thù như Học viện An ninh nhân dân, Học viện Tòa án, Đại học Kiểm sát Hà Nội.
Trao đổi với Tri Thức - Znews, ThS Phạm Thái Sơn, Giám đốc Trung tâm Tuyển sinh và Truyền thông, Đại học Công Thương TP.HCM, cho biết để mở ngành đào tạo cử nhân luật, theo quy định của Bộ GD&ĐT, trường phải đáp ứng 4 nhóm điều kiện cốt lõi, bao gồm:
Đội ngũ giảng viên: Đảm bảo đủ số lượng, chất lượng.
Chương trình đào tạo: Xây dựng theo Khung trình độ quốc gia, có chuẩn đầu ra rõ ràng, có sự thẩm định của các chuyên gia hoặc hội đồng chuyên môn.
Cơ sở vật chất và hạ tầng: Đảm bảo đủ thiết bị, thư viện, phòng học, phòng thực hành...
Có đơn vị quản lý chuyên môn, bao gồm hệ thống quản lý đào tạo, quy trình đánh giá sinh viên, giảng viên...
Quá trình xin phép mở ngành có thể kéo dài vài năm, với nhiều đợt thẩm định. Sau khi mở ngành, nhà trường phải duy trì chất lượng đào tạo thông qua phát triển đội ngũ giảng viên, cập nhật chương trình đào tạo hàng năm...
Thực tế, những năm qua, đa số trường đều lấy điểm đầu vào ngành luật rất cao. Nhiều cơ sở không chuyên cũng lấy trên 25 điểm ba môn.
Sau quá trình đào tạo, các trường phải thực hiện kiểm định chương trình đào tạo theo chu kỳ để duy trì chất lượng. Nếu chậm kiểm định hoặc không đạt chuẩn kiểm định, trường có thể phải giảm chỉ tiêu tuyển sinh, hoặc buộc dừng tuyển sinh theo quy định.
"Như vậy, có thể nói việc mở và đào tạo ngành Luật ở các trường chuyên ngành hay đa ngành hiện nay không hề dễ dãi", ông Sơn khẳng định.
Quang cảnh phòng diễn án tại khoa Luật, trường Kinh tế và Quản lý công, Đại học Kinh tế Quốc dân. Ảnh: NEU.
Dù đã có quy định về việc việc đào tạo cử nhân luật ở Việt Nam, song các chuyên gia cho rằng hiện vẫn tồn tại nhiều hạn chế dẫn đến chất lượng và hiệu quả đào tạo chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn.
TS.LS Đặng Văn Cường, giảng viên khoa Luật và lý luận chính trị, Đại học Thủy lợi, nhìn nhận chất lượng đào tạo giữa các cơ sở chưa đồng đều. Thậm chí, một số trường chưa đáp ứng được điều kiện về giảng viên, cơ sở vật chất, dẫn đến khó khăn trong việc tuyển sinh, chất lượng chưa đảm bảo.
ThS Phạm Thái Sơn bổ sung hiện nay, nhiều trường khi mở ngành đảm bảo đủ điều kiện vòng đầu. Nhưng sau 2-3 năm thì ngày càng đi xuống, đội ngũ giảng dạy chủ yếu là giảng viên thỉnh giảng, đến đợt kiểm định lại tìm cách đáp ứng.
Còn theo nghiên cứu của TS Hồ Nhân Ái (khoa Luật quốc tế, Đại học Luật, Đại học Huế) đăng trên Tạp chí Luật sư năm 2022, những hạn chế trong đào tạo cử nhân luật ở Việt Nam hiện nay gồm:
Sự tăng trưởng quá nhanh về số lượng cơ sở đào tạo luật nhưng thiếu kiểm soát chất lượng đào tạo;
Chương trình đào tạo nhìn chung vẫn nặng về lý thuyết, thiếu dạy kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp;
Phương pháp dạy học còn hạn chế, chưa hiệu quả;
Đội ngũ giảng viên thuần hàn lâm, lý thuyết, thiếu kiến thức thực tiễn và kỹ năng nghề nghiệp;
Hạn chế về việc thực hành, thực tập của sinh viên.
Nâng chất lượng nhưng không "gom" đào tạo
Từ những lý do trên, TS Đặng Văn Cường cho rằng tăng cường chất lượng đào tạo đại học là cần thiết, đặc biệt là đào tạo thầy thuốc, thầy giáo và thầy luật, bởi tác động trực tiếp đến nhiều lĩnh vực trong xã hội.
Tuy nhiên, theo vị tiến sĩ, nâng cao chất lượng không đồng nghĩa với đào tạo ít lại, hay đào tạo tập trung ở các "trường chuyên ngành". Ông cho rằng giải pháp này không phù hợp với xu hướng phát triển xã hội ngày nay; sẽ gây ra khủng hoảng trong đào tạo luật; làm giảm nguồn nhân lực, thiếu nguồn để đào tạo các chức danh tư pháp như luật sư, công chứng viên...
TS.LS cho rằng không thể kết luận trường đại học luật thì chất lượng tốt hơn việc giáo dục tại khoa luật. Ảnh: NVCC.
Theo dõi việc đào tạo Luật ở nhiều quốc gia như Mỹ, Canada, Anh, Đức, TS Cường cho biết chưa có quốc gia nào quy định chỉ có trường đại học luật chuyên mới được đào tạo cử nhân Luật.
Các trường đào tạo Luật hàng đầu của các nước như Đại học Oxford hay Cambridge (Anh), Đại học Harvard (Mỹ), Đại học Heidelberg (Đức)... đều là trường đa ngành. Đây là mô hình phổ biến nhất trên thế giới đối với các cơ sở đào tạo luật danh tiếng.
"Không thể kết luận là trường đại học luật thì chất lượng tốt hơn việc giáo dục tại khoa luật. Khoa luật hay trường luật chỉ là mô hình quản lý, cách thức quản lý chứ không quyết định đến chất lượng đào tạo", ông Cường nhấn mạnh.
Do đó, vị tiến sĩ nêu quan điểm không nên bỏ tất cả khoa luật ở các trường đa ngành mà cần kiểm tra, rà soát điều kiện, chất lượng đào tạo, tăng cường cơ chế giám sát, quản lý để đảm bảo chất lượng đào tạo cử nhân luật .
Ông đề xuất quy định chỉ có "trường chuyên" về luật mới được đào tạo luật sư hay cán bộ tư pháp như kiểm sát viên, thẩm phán. Còn với đào tạo cử nhân luật, các trường "không chuyên" đáp ứng đủ điều kiện vẫn có thể tiếp tục. Bởi, cử nhân là trình độ cơ bản, là nhu cầu của rất nhiều ngành nghề lĩnh vực, phù hợp với sự phát triển của xã hội.
ThS Phạm Thái Sơn đồng tình với quan điểm trên. Ông bổ sung nên áp "siết" điều kiện về đội ngũ giảng viên khi mở ngành. Không chỉ số lượng mà phải đảm bảo tỷ lệ giảng viên có kinh nghiệm pháp lý thực tiễn.
Cùng với đó, các trường phải đảm bảo tuyệt đối quyền lợi của người học, không thể chạy đua số lượng để bỏ qua chất lượng. Cuối cùng, khâu thanh tra, hậu kiểm "phải làm thật" thay vì chỉ kiểm tra vòng đầu.
Ngọc Bích