Bản chất của chủ nghĩa tân tự do và mưu đồ lợi dụng
Chủ nghĩa tân tự do (neoliberalism) là một tư tưởng kinh tế - chính trị nhấn mạnh vai trò của thị trường tự do, giảm sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế và đề cao cạnh tranh cá nhân. Khái niệm này bắt đầu nổi lên và có ảnh hưởng từ thập niên 1970 - 1980, gắn với các chính sách của Margaret Thatcher ở Anh và Ronald Reagan ở Mỹ. Chủ nghĩa tân tự do đề cao vai trò của thị trường tự do, giảm sự can thiệp của nhà nước, thúc đẩy tư nhân hóa và tự do hóa thương mại. Ngày nay, trong một số điều kiện cụ thể, những nguyên lý này cũng có những giá trị nhất định trong việc góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Cảnh giác với luận điệu núp bóng chủ nghĩa tân tự do để tuyên truyền chống phá. Ảnh: Internet
Tuy nhiên, nếu áp dụng một cách cực đoan, thiếu sự kiểm soát, định hướng đúng đắn có thể dẫn tới những hệ quả nghiêm trọng: làm suy giảm vai trò điều tiết của nhà nước, suy giảm an sinh xã hội, gia tăng bất bình đẳng; hình thành các nhóm lợi ích, tập đoàn, doanh nghiệp độc quyền chi phối, thao túng thị trường, xu hướng thương mại hóa giáo dục, y tế và dịch vụ công, khủng hoảng kinh tế, tài chính và trực tiếp tác động, làm tổn hại đến các mục tiêu phát triển bền vững của đất nước.
Ở Việt Nam, một số đối tượng thường núp bóng, tô vẽ, cổ súy cho lý thuyết của chủ nghĩa tân tự do để tuyên truyền những luận điệu xuyên tạc, chống phá, như: phủ nhận vai trò quản lý của nhà nước trong nền kinh tế; đòi hỏi “tư nhân hóa toàn diện” hoặc “thị trường hóa tuyệt đối”; xuyên tạc mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN… Những lập luận này thường được trình bày dưới danh nghĩa “cải cách”, “đổi mới” nhưng thực chất hướng đến mục tiêu làm suy yếu nền tảng kinh tế - chính trị; đánh đồng kinh tế thị trường với TBCN thuần túy; phủ nhận vai trò của doanh nghiệp nhà nước một cách cực đoan; thổi phồng các vấn đề như tham nhũng, tiêu cực để quy kết cho bản chất mô hình phát triển; kêu gọi thay đổi thể chế theo hướng phi thực tế hoặc không phù hợp với điều kiện nước ta. Đáng chú ý, những lập luận này thường bỏ qua những yếu tố, quy luật khách quan từ bối cảnh lịch sử, văn hóa, cơ sở chính trị, kinh tế - xã hội cụ thể của Việt Nam.
Bác bỏ các luận điệu xuyên tạc, sai trái
Không phủ nhận những giá trị tích cực của chủ thuyết tân tự do đối với sự phát triển kinh tế ở các nước tư bản phương Tây, song không có nghĩa điều đó cũng đúng và phù hợp với mọi quốc gia, vùng lãnh thổ, thể chế chính trị, trong mọi hoàn cảnh. Rõ ràng, việc nhìn nhận những giá trị, mặt tích cực phù hợp để tham khảo, vận dụng là cần thiết. Tuy nhiên, cũng cần nhận thức rõ tính hai mặt, những điểm không phù hợp, những luận điệu “núp bóng” vỏ bọc để thực hiện âm mưu, ý đồ đen tối của các đối tượng xấu. Việc cảnh giác không có nghĩa là phủ nhận hoàn toàn các yếu tố tích cực của kinh tế thị trường hay các cải cách cần thiết. Ngược lại, cần thiết tiếp thu có chọn lọc các yếu tố tiến bộ của kinh tế thị trường; giữ vững vai trò điều tiết của nhà nước để đảm bảo công bằng xã hội; tăng cường năng lực phản biện khoa học, phân biệt giữa góp ý xây dựng và luận điệu xuyên tạc, nâng cao nhận thức xã hội, đặc biệt trong bối cảnh thông tin đa chiều hiện nay.
Tiếp cận các luận điệu chống phá, có thể thấy điểm chung là các đối tượng đã bỏ qua những dữ liệu thực tiễn dài hạn, mang tính bản chất của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Việt Nam. Từ một nền kinh tế bị tàn phá sau chiến tranh, khủng hoảng sau ngày đất nước hoàn toàn giải phóng, thống nhất, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, đất nước đã từng bước khôi phục, kiến thiết, phát triển, duy trì tăng trưởng cao trong nhiều thập kỷ. Tỷ lệ nghèo giảm mạnh theo chuẩn quốc tế; cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tổng kết 40 năm đổi mới đất nước, Đảng ta nhấn mạnh: “Từ một quốc gia lạc hậu, thiếu đói thường xuyên, chúng ta đã vươn lên thoát khỏi tình trạng nước nghèo, kém phát triển, trở thành nước đang phát triển, có mức thu nhập trung bình. Đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Điều đó cho thấy, nếu mô hình phát triển là “sai lầm” như các luận điệu nêu thì không thể tạo ra kết quả ổn định, liên tục và trên diện rộng như vậy. Nói cách khác, tính đúng đắn của một mô hình phải được kiểm nghiệm bằng kết quả, không phải bằng định kiến ý thức hệ.
Các quan điểm mang màu sắc tân tự do thường dựa trên giả định của kinh tế học tân cổ điển rằng thị trường có khả năng tự điều chỉnh tối ưu. Tuy nhiên, điều này bộc lộ rõ nhiều điểm hạn chế, như: Mặt trái của cơ chế thị trường; độc quyền, ngoại ứng, thông tin bất cân xứng; khủng hoảng chu kỳ và gia tăng bất bình đẳng ở nhiều nước áp dụng chính sách tân tự do triệt để. Điều đó khẳng định, việc đề xuất “giảm tối đa vai trò nhà nước” không phải là một chân lý phổ quát, mà chỉ là một lựa chọn chính sách có điều kiện. Trong bối cảnh các nước đang phát triển như Việt Nam, Nhà nước đóng vai trò điều tiết là cần thiết để khắc phục những hạn chế, thất bại của thị trường.
Các luận điệu cực đoan thường ngầm giả định rằng, chỉ có một con đường phát triển kinh tế “đúng” - theo kiểu tân tự do. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, trên thế giới không có một mô hình duy nhất đúng cho mọi quốc gia, mọi nền kinh tế. Bất luận trong hoàn cảnh nào, vai trò của Nhà nước cũng là rất quan trọng. Thế giới cũng đã chứng kiến Trung Quốc tăng trưởng nhanh với vai trò mạnh của Nhà nước. Hàn Quốc phát triển như ngày nay nhờ vai trò định hướng phát triển công nghiệp của Nhà nước hay Singapore thành công với sự kết hợp giữa thị trường với quản trị nhà nước hiệu quả. Phát triển kinh tế là đa dạng mô hình, phụ thuộc vào lịch sử, thể chế và điều kiện cụ thể. Do đó, việc áp đặt một mô hình duy nhất - tân tự do thuần túy là phi khoa học và phi thực tiễn.
Ở Việt Nam, trong những năm qua, đặc biệt là trong 40 năm đổi mới, sự quản lý, điều hành của Nhà nước đối với kinh tế thị trường được đổi mới sát thực và hiệu quả hơn thông qua các công cụ pháp luật, kế hoạch, quy hoạch, chính sách và các công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô. Theo Chỉ số quản trị toàn cầu (WGI) của Ngân hàng Thế giới, chỉ số hiệu quả hoạt động của Chính phủ đã được cải thiện. Theo xếp hạng phần trăm trên đề cập đến giới hạn trên của khoảng tin cậy 90 phần trăm, chỉ số hiệu quả Chính phủ của Việt Nam cải thiện từ 57,4 điểm xếp hạng phần trăm năm 2010 lên 66,7 năm 2015; 71,0 năm 2020; 72,4 năm 2021; giảm còn 71,2 năm 2022; 69,3 năm 2023.
Bên cạnh đó, Việt Nam là quốc gia đi lên từ nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, hậu quả chiến tranh kéo dài với hệ thống thể chế đặc thù. Trong bối cảnh đó, nếu áp dụng tân tự do cực đoan tư nhân hóa tự phát, bị các thế lực bên ngoài thao túng, chi phối có thể gây mất ổn định; giảm vai trò nhà nước có thể làm suy yếu năng lực điều phối phát triển. Thậm chí tiềm ẩn nguy cơ “sốc chuyển đổi” như từng xảy ra ở một số nước hậu Xô viết. Điều đó cho thấy, chính sách phải phù hợp với điều kiện lịch sử cụ thể, không thể sao chép máy móc mô hình bên ngoài.
Việc các đối tượng lấy một số vấn đề (tham nhũng, lãng phí, tiêu cực) rồi quy kết cho toàn bộ mô hình là hoàn toàn phi lý. Đây là vấn đề quản trị và thực thi chính sách của mọi quốc gia chứ không phải của riêng quốc gia nào và càng không phải bản chất mô hình nhà nước. Mô hình kinh tế của Việt Nam thực chất không phủ nhận thị trường, tận dụng hiệu quả phân bổ nguồn lực, song không buông lỏng nhà nước để đảm bảo ổn định và công bằng.
Mai Ngọc Quân