Đánh giá hiệu quả dự án đầu tư: Kết hợp tiêu chí tài chính, xã hội và tính bền vững

Đánh giá hiệu quả dự án đầu tư: Kết hợp tiêu chí tài chính, xã hội và tính bền vững
3 giờ trướcBài gốc
Ông Trần Thành Vinh - Phó Trưởng phòng Tổng hợp, KTNN chuyên ngành V - tham luận tại Tọa đàm. Ảnh: N. LỘC
Phát hiện loạt bất cập qua kiểm toán các dự án đầu tư
Thông tin tại Tọa đàm, ông Trần Thành Vinh - Phó Trưởng phòng Tổng hợp, KTNN chuyên ngành V - cho biết, những năm qua, đơn vị đã thực hiện kiểm toán nhiều loại hình dự án công nghiệp, dự án hạ tầng kỹ thuật, các Chương trình mục tiêu quốc gia… Qua kiểm toán, đơn vị đã chỉ ra nhiều tồn tại, bất cập và kiến nghị xử lý, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng vốn đầu tư công; chấn chỉnh công tác lập, thẩm định và phê duyệt dự án; hạn chế thất thoát, lãng phí; tăng cường trách nhiệm của chủ đầu tư và cơ quan quản lý nhà nước; hoàn thiện cơ chế, chính sách quản lý đầu tư xây dựng.
Đặc biệt, một số cuộc kiểm toán đã bước đầu tiếp cận đánh giá hiệu quả sau đầu tư thông qua các nội dung như: Mức độ đạt được mục tiêu đầu tư; hiệu quả khai thác công trình; tỷ lệ sử dụng công suất thiết kế; tác động kinh tế - xã hội của dự án; khả năng hoàn vốn và hiệu quả tài chính; mức độ phục vụ người dân và doanh nghiệp.
Cũng theo ông Vinh, kết quả kiểm toán cho thấy còn một số hạn chế về hiệu quả đầu tư như: Nhiều dự án khảo sát chưa đầy đủ, dự báo nhu cầu thiếu chính xác; dự án phải điều chỉnh quy mô đầu tư hoặc cắt giảm quy mô đầu tư; xác định tổng mức đầu tư không chính xác dẫn đến phải điều chỉnh tổng mức đầu tư; hiệu quả khai thác thấp hơn dự kiến, hoặc các dự án có chi phí vận hành cao hơn nhiều lần so với tính toán.
Nhiều dự án chậm tiến độ do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan như: Giải phóng mặt bằng kéo dài; thiếu vốn bố trí hoặc bố trí vốn kéo dài nhiều năm hoặc dự án bị dãn hoãn tiến độ theo các Nghị quyết của Quốc hội và Chính phủ; năng lực nhà thầu hạn chế; công tác quản lý dự án chưa hiệu quả; việc chậm tiến độ làm tăng chi phí đầu tư, giảm hiệu quả kinh tế và xã hội của dự án.
Hiệu quả khai thác công trình chưa cao như: công suất sử dụng thấp, thiếu đồng bộ trong kết nối hạ tầng; khai thác không đúng công năng thiết kế. Một số công trình sau đầu tư hoạt động cầm chừng, gây lãng phí nguồn lực ngân sách nhà nước.
Chưa có hệ thống tiêu chí đánh giá hiệu quả dự án đầu tư thống nhất. Hiện nay, Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật chưa có quy định rõ về các tiêu chí và cách đánh giá hiệu quả đầu tư, hiệu quả kinh tế - xã hội và tác động trong và sau đầu tư; việc đánh giá hiệu quả đầu tư chủ yếu dừng ở giai đoạn chuẩn bị, lập thẩm định và phê duyệt dự án đầu tư thông qua các công cụ để đánh giá các chỉ tiêu kinh tế - tài chính để phân tích, đánh giá hiệu quả đầu tư của dự án.
Trong khi đó, đại diện KTNN khu vực IV chia sẻ, năm 2025, kết quả kiểm toán các dự án đầu tư công tại TP. Hồ Chí Minh, Bình Dương, Long An và Tây Ninh cũng cho thấy, thực tiễn đầu tư công còn phát sinh những sai phạm và bất cập trong điều hành, thực hiện dự án đầu tư, tiềm ẩn rủi ro đến an toàn tài khóa và hiệu quả sử dụng tài chính, tài sản công.
Cụ thể, việc phân bổ vốn đầu tư công tăng nhanh hơn tốc độ tăng thu, chi ngân sách địa phương, với số vốn được phân bổ lớn hơn so với giai đoạn trước nhưng việc chuẩn bị, triển khai dự án chậm cùng việc xây dựng và phân bổ Kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2021-2025 không sát với khả năng thực hiện dẫn tới tỷ lệ giải ngân bình quân đạt 68,8% thấp hơn so với tỷ lệ giải ngân bình quân giai đoạn 2016-2020 (đạt 86,2%) là 17,4%, tỷ trọng chi đầu tư phát triển thực hiện bình quân chỉ đạt 23%, thấp hơn so với tỷ trọng chi đầu tư phát triển bình quân cả nước trong giai đoạn này là 28%.
Công tác lập, thẩm định, báo cáo Hội đồng nhân dân và báo cáo các Bộ, ngành về kế hoạch đầu tư công năm 2024 chậm so với quy định tại Điều 56 của Luật Đầu tư công; không thực hiện báo cáo việc đánh giá kế hoạch đầu tư công hàng quý theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 70 Luật Đầu tư công 2019…
Giải ngân vốn đầu tư công chưa đạt mục tiêu giải ngân vốn đầu tư công tối thiểu đạt 95% kế hoạch theo Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 05/01/2024 của Chính phủ; có tình trạng điều chỉnh để báo cáo tăng tỷ lệ giải ngân thông qua việc điều chỉnh kế hoạch vốn từ các dự án không có khả năng giải ngân hoặc tỷ lệ giải ngân thấp sang giải ngân bằng hình thức tạm ứng để chi trả bồi thường giải phóng mặt bằng và phần lớn được thực hiện thời điểm cuối năm nên số giải ngân chủ yếu được chuyển từ ngân sách sang tài khoản mở tại Kho bạc Nhà nước của các chủ đầu tư, ban bồi thường, chưa trực tiếp đến người thụ hưởng (người dân và doanh nghiệp) để nguồn vốn này đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh.
Bên cạnh đó, kết quả kiểm toán các dự án BT còn cho thấy: Xác định giá trị hoàn thành dự án BT đề nghị quyết toán, một số chi phí chưa phù hợp với Hợp đồng BT và quy định tại thời điểm quyết toán; dự án chưa được thực hiện quy trình xác nhận khối lượng và giá trị thực hiện theo tiến độ hoàn thành của Dự án theo quy định Hợp đồng BT; công tác khảo sát lập thiết kế kỹ thuật còn một số hạng mục chưa phù hợp điều kiện thực tế dẫn đến phải điều chỉnh, bổ sung thiết kế kỹ thuật; không thực hiện đúng các điều khoản quy định của hợp đồng như: nhà đầu tư tự thực hiện quản lý dự án không thuê Công ty tư vấn quản lý dự án chuyên nghiệp quản lý dự án; nhà đầu tư đề xuất thanh toán thuế giá trị gia tăng chưa đúng theo giá trị Hợp đồng BT…
Đại diện KTNN khu vực IV tham luận tại điểm cầu trực tuyến. Ảnh: N.Lộc
Đề xuất xây dựng Bộ tiêu chí kiểm toán đánh giá hiệu quả của dự án đầu tư
Để nâng cao chất lượng đánh giá hiệu quả dự án sau đầu tư trong hoạt động kiểm toán, đại diện KTNN chuyên ngành V đề xuất xây dựng Bộ tiêu chí kiểm toán đánh giá hiệu quả dự án đầu tư theo 5 nhóm:
Nhóm tiêu chí về tính kinh tế: Đánh giá mức độ tiết kiệm, hợp lý trong sử dụng nguồn lực đầu tư, bao gồm: Tổng mức đầu tư thực tế so với phê duyệt; chi phí đầu tư trên một đơn vị công suất; mức độ phát sinh, điều chỉnh vốn; chi phí vận hành, bảo trì sau đầu tư để đánh giá và phân tích các nguyên nhân dự án kém hiệu quả.
Nhóm tiêu chí về hiệu lực: Đánh giá mức độ đạt được mục tiêu dự án: mức độ hoàn thành mục tiêu đầu tư; tiến độ hoàn thành dự án; khả năng đáp ứng nhu cầu sử dụng; mức độ đồng bộ của công trình; tỷ lệ công suất, công năng khai thác thực tế so với thiết kế không như tính toán ban đầu.
Nhóm tiêu chí về hiệu quả tài chính: Áp dụng đối với các dự án có yếu tố thu hồi vốn cho đúng cụ thể từng ngành, từng lĩnh vực do các Bộ, ngành quản lý nhằm nhất quán và phù hợp với từng loại hình dự án; doanh thu thực tế; tỷ suất hoàn vốn; khả năng cân đối tài chính; hiệu quả khai thác tài sản.
Nhóm tiêu chí về hiệu quả kinh tế - xã hội: Đây là nhóm tiêu chí quan trọng đối với các dự án đầu tư công: tác động đến tăng trưởng kinh tế địa phương; tạo việc làm; giảm chi phí xã hội; nâng cao chất lượng dịch vụ công; tác động đến đời sống dân cư; mức độ thụ hưởng và hài lòng của người dân và doanh nghiệp.
Nhóm tiêu chí về tính bền vững: Khả năng vận hành lâu dài; tác động môi trường; khả năng thích ứng với biến đổi nhu cầu; hiệu quả duy tu, bảo trì; mức độ ứng dụng công nghệ.
Trong khi đó, đại diện KTNN khu vực IV đề xuất xây dựng Bộ tiêu chí kiểm toán đánh giá hiệu quả của dự án đầu tư được xây dựng theo nguyên tắc 3E (Economy - Efficiency - Effectiveness) trong kiểm toán hoạt động, kết hợp với các chỉ tiêu tài chính, kỹ thuật, tiến độ và tác động xã hội như sau:
Tiêu chí về tính kinh tế (Economy): Đánh giá việc sử dụng nguồn lực có tiết kiệm hay không. Nội dung đánh giá gồm: Chi phí đầu tư thực tế so với tổng mức đầu tư phê duyệt; chi phí mua sắm nguyên vật liệu, thiết bị có tuân thủ định mức và có tối ưu so với giá thị trường hay không; chi phí tư vấn, quản lý dự án, chi phí xây dựng; mức độ tiết kiệm ngân sách trong quá trình thực hiện
Tiêu chí về tính hiệu quả (Efficiency): Đánh giá mối quan hệ giữa nguồn lực đầu vào và kết quả đầu ra. Nội dung đánh giá gồm: Tiến độ thực hiện dự án; năng suất sử dụng vốn; hiệu quả khai thác tài sản đầu tư; hiệu quả sử dụng lao động, thiết bị trong quá trình triển khai dự án.
Tiêu chí về tính hiệu lực (Effectiveness): Đánh giá mức độ đạt được mục tiêu của dự án. Nội dung đánh giá gồm: Mức độ hoàn thành mục tiêu ban đầu; mức độ đáp ứng nhu cầu của đối tượng thụ hưởng; kết quả đầu ra và kết quả cuối cùng.
Tiêu chí tài chính: Đặc biệt quan trọng đối với dự án đầu tư của doanh nghiệp. Nội dung đánh giá là mức độ đạt được của các chỉ tiêu tài chính.
Tiêu chí tuân thủ: Nội dung đánh giá gồm: Tuân thủ quy định về đầu tư; tuân thủ quy định đấu thầu; tuân thủ quy định môi trường; tuân thủ chế độ tài chính, kế toán.
Tiêu chí chất lượng công trình/tài sản hình thành: Nội dung đánh giá gồm: Chất lượng kỹ thuật; an toàn vận hành; tuổi thọ công trình; tỷ lệ hư hỏng sau đầu tư.
Tiêu chí tác động kinh tế - xã hội: Áp dụng cho các dự án công hoặc dự án sử dụng vốn nhà nước. Nội dung đánh giá gồm: Tạo việc làm; tăng thu ngân sách; giảm nghèo; tác động môi trường; tác động đến cộng đồng./.
NHÓM PHÓNG VIÊN
Nguồn Kiểm Toán : https://baokiemtoan.vn/bai-viet/danh-gia-hieu-qua-du-an-dau-tu-ket-hop-tieu-chi-tai-chinh-xa-hoi-va-tinh-ben-vung