Đánh thức đô thị miền núi

Đánh thức đô thị miền núi
2 giờ trướcBài gốc
Một góc bản làng miền núi phía Tây Đà Nẵng nhìn từ trên cao. Ảnh: NGÔ QUANG TUẤN
Trong bối cảnh đó, Nghị quyết 06/NQ-HĐND về điều chỉnh quy hoạch thành phố Đà Nẵng thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 đã xác lập rõ định hướng thu hẹp khoảng cách phát triển giữa đô thị và nông thôn, đặc biệt là khu vực miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số như một điều kiện tiên quyết để hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, mang tính chiến lược và nhân văn.
“Kích hoạt” giá trị bản địa
Trong nhiều năm qua, khu vực lõi đô thị Đà Nẵng đã có bước phát triển ấn tượng, trở thành một trong những trung tâm năng động của cả nước. Tuy nhiên, khi không gian được mở rộng, sự chênh lệch về hạ tầng và mức sống giữa các vùng ngày càng bộc lộ rõ. Các xã miền núi phía tây vẫn còn hạn chế trong tiếp cận giao thông, y tế, giáo dục, nước sạch, hạ tầng số, điện...
Trước đó, Quyết định 72/QĐTTg ngày 17/1/2024 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tỉnh Quảng Nam thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 đã định hướng khu vực miền núi phía tây là vùng bảo tồn hệ sinh thái rừng tự nhiên; phát triển vùng nguyên liệu lâm sản và dược liệu quốc gia; kinh tế vườn, trang trại, chăn nuôi; khai thác thủy điện, khoáng sản; bảo vệ khu vực biên giới.
Cũng theo quy hoạch trên, Khâm Đức - Phước Sơn và Thạnh Mỹ - Nam Giang là các đô thị chuyển tiếp, kết nối, giao lưu phát triển giữa khu vực đồng bằng tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng với Tây Nguyên và các nước trên hành lang quốc tế Đông - Tây.
Sự giao thoa giữa hai không gian quy hoạch đặt ra yêu cầu về một cách tiếp cận mới: phát triển đô thị miền núi không chỉ dừng lại ở việc “bù đắp thiếu hụt” mà cần được định vị như một động lực lan tỏa, thúc đẩy hình thành các đô thị vệ tinh, qua đó góp phần giảm áp lực cho khu vực trung tâm và tạo lập thế phát triển cân bằng trong kinh tế - xã hội.
Theo đó, tư duy về phát triển đô thị hóa miền núi cần được đổi mới theo hướng chủ động, tích hợp và có tầm nhìn dài hạn, gắn kết chặt chẽ với mạng lưới đô thị chung và phát huy tối đa tiềm năng đặc thù của từng địa phương. Thay vì áp dụng mô hình đô thị truyền thống, cần phát triển các loại hình đô thị phù hợp với điều kiện tự nhiên và văn hóa bản địa.
Theo tinh thần của Nghị quyết 06/NQ-HĐND, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực trung tâm, gắn với phát triển kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn. Điều này mở ra cơ hội để khu vực miền núi chuyển từ tư duy phát triển truyền thống sang cách tiếp cận “đô thị mở” - linh hoạt, phân tán nhưng liên kết chặt chẽ theo mạng lưới, dựa trên bản sắc và lợi thế riêng của từng vùng.
Theo đó, các mô hình như: đô thị sinh thái, đô thị du lịch cộng đồng, đô thị dược liệu… không chỉ đơn thuần là định hướng phát triển không gian, mà còn là cấu trúc kinh tế - xã hội mới, nơi con người, thiên nhiên và văn hóa cùng được đặt trong mối quan hệ hài hòa, bền vững. Các mô hình này giúp khai thác hiệu quả tài nguyên bản địa theo hướng gia tăng giá trị, đồng thời bảo tồn hệ sinh thái rừng và các giá trị văn hóa truyền thống.
Đặc biệt, trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng tác động mạnh đến khu vực miền Trung, việc phát triển các đô thị mở miền núi theo hướng xanh, tuần hoàn và phát thải thấp sẽ góp phần nâng cao năng lực thích ứng và giảm thiểu rủi ro thiên tai.
Trên cơ sở đó, có thể định hình các cực phát triển mang tính đặc thù như: Nam Trà My hướng tới đô thị dược liệu gắn với trung tâm nghiên cứu, sản xuất và thương mại hóa các sản phẩm bản địa; Tiên Phước phát triển đô thị du lịch cộng đồng, miệt vườn theo hướng trải nghiệm và kinh tế xanh; Khâm Đức - Phước Sơn hình thành đô thị sinh thái, đóng vai trò cửa ngõ kết nối và trung chuyển vùng; Thạnh Mỹ định hình đô thị mang đậm kiến trúc và không gian sinh hoạt của các dân tộc thiểu số, vừa bảo tồn vừa “sống hóa” di sản văn hóa… Đây không chỉ là các mô hình phát triển, mà còn là cách “kích hoạt” giá trị bản địa, tạo sức hút khác biệt cho đô thị miền núi.
Phát triển theo hướng bền vững, bao trùm và cân bằng
Để khơi dậy dư địa phát triển và thu hẹp khoảng cách giữa miền núi và đồng bằng, việc phát triển đô thị miền núi cần được tiếp cận theo hướng tổng thể, đồng bộ và có tầm nhìn dài hạn. Quy hoạch phát triển các đô thị miền núi theo hướng tích hợp, bảo đảm liên kết chặt chẽ giữa các ngành, các địa phương. Quy hoạch không chỉ dừng ở phân bổ không gian mà cần trở thành công cụ dẫn dắt phát triển, dựa trên đặc trưng địa hình, cấu trúc dân cư, bản sắc văn hóa và lợi thế kinh tế của từng khu vực, từ đó hình thành các cực tăng trưởng có trọng tâm và khả năng lan tỏa.
Đồng bào Cơ Tu dưới tán rừng tại xã biên giới Hùng Sơn. Ảnh: HUỲNH VĂN TRUYỀN
Trên nền tảng quy hoạch, hạ tầng kết nối cần được xác định là đòn bẩy chiến lược. Việc ưu tiên đầu tư và mở rộng các trục giao thông liên vùng, kết nối miền núi với đồng bằng như: Quốc lộ 14B, 14G, 14D - Cửa khẩu Đắc Tà Oọc, 14E, đường Tam Trà - Trà Kót (ĐT.617 đi quốc lộ 40B)… không chỉ mở rộng không gian phát triển mà còn tạo điều kiện để các địa phương tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.
Song song với đó là phát triển đồng bộ hạ tầng điện và hạ tầng số, từ internet tốc độ cao đến các nền tảng dịch vụ số nhằm rút ngắn khoảng cách phát triển, thúc đẩy kinh tế số và nâng cao năng lực quản trị đô thị. Cùng với đó, cách tiếp cận phát triển tích hợp cần được triển khai đồng bộ và nhất quán, trong đó quy hoạch không gian mở phải gắn chặt với định hướng kinh tế xanh, bảo vệ bền vững hành lang sinh thái rừng và khai thác hợp lý tài nguyên.
Thúc đẩy phát triển kinh tế bản địa theo chuỗi giá trị, chú trọng nâng tầm các sản phẩm đặc trưng, sản phẩm OCOP, đồng thời đẩy mạnh ứng dụng thương mại điện tử, chuyển đổi số để mở rộng thị trường, gia tăng giá trị và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Mặt khác, phát triển đô thị miền núi không thể tách rời yếu tố văn hóa - xã hội. Việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa bản địa cần được xác định là một trụ cột quan trọng trong chiến lược phát triển, nhằm tránh xu hướng “đồng bằng hóa”, giữ gìn bản sắc riêng và tạo sức hấp dẫn đặc thù cho từng đô thị. Đây cũng là nền tảng để phát triển du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái gắn với trải nghiệm văn hóa, qua đó góp phần đa dạng hóa sinh kế cho người dân.
Ưu tiên bố trí nguồn lực đầu tư thỏa đáng để phát triển hệ thống y tế, giáo dục và các thiết chế văn hóa gắn với nhu cầu thực tiễn của địa phương theo tinh thần các nghị quyết của Trung ương như: Nghị quyết 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam; Nghị quyết 72-NQ/TW về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân; Nghị quyết 71-NQ/TW về phát triển giáo dục… Việc đầu tư đồng bộ các dịch vụ xã hội thiết yếu không chỉ nâng cao chất lượng cuộc sống mà còn tạo điều kiện để người dân tiếp cận dịch vụ ngay tại chỗ, hạn chế di cư tự phát về khu vực trung tâm, qua đó góp phần phát triển đô thị miền núi theo hướng bền vững, bao trùm và cân bằng hơn.
Bên cạnh đó, cần mở rộng không gian sinh kế cho người dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số, thông qua các chương trình đào tạo nghề gắn với nhu cầu thị trường, giao khoán, bảo vệ và phát triển rừng, hỗ trợ tạo việc làm bền vững và triển khai hiệu quả các chính sách an sinh xã hội. Người dân địa phương không chỉ là đối tượng thụ hưởng mà cần được xác định là chủ thể trung tâm, trực tiếp kiến tạo nội lực cho quá trình phát triển đô thị miền núi.
Đồng thời, cần thiết lập cơ chế để cộng đồng tham gia một cách thực chất vào quá trình quy hoạch, triển khai và giám sát các chính sách phát triển nhằm đưa đô thị miền núi phát triển bền vững, giàu bản sắc và có sức sống lâu dài.
Trong hành trình trở thành trung tâm kinh tế - xã hội lớn của khu vực miền Trung và Tây Nguyên, thành phố cần kiên định với mục tiêu phát triển bao trùm, không để ai bị bỏ lại phía sau. “Đánh thức” đô thị miền núi vì thế không chỉ là nhiệm vụ quy hoạch, mà còn là thước đo cho tầm nhìn và bản lĩnh phát triển của thành phố trong giai đoạn mới.
MINH SƠN
Nguồn Đà Nẵng : https://baodanang.vn/danh-thuc-do-thi-mien-nui-3337834.html