Bộ Y tế đang lấy ý kiến cho dự thảo Thông tư ban hành danh mục thuốc hóa dược, sinh phẩm, chất phóng xạ và chất đánh dấu thuộc phạm vi được hưởng của người tham gia BHYT, thay thế Thông tư 20/2022.
Cơ sở khám chữa bệnh được hưởng lợi
Theo Vụ trưởng Vụ BHYT (Bộ Y tế) Trần Thị Trang, đây là lần cập nhật danh mục thuốc BHYT lớn nhất trong 8 năm qua, với nhiều thay đổi trực tiếp liên quan đến người bệnh, cơ sở khám chữa bệnh và cân đối quỹ BHYT.
Việc sửa đổi danh mục thuốc lần này được xây dựng trên nền tảng các chủ trương lớn về y tế và an sinh xã hội như Nghị quyết 20, Nghị quyết 72, Chỉ thị 52, trong đó có mục tiêu đưa tỉ lệ bao phủ BHYT lên trên 95% dân số vào năm 2026, từng bước giảm gánh nặng chi phí y tế từ tiền túi hộ gia đình và mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ ngay tại tuyến cơ sở.
"Danh mục thuốc BHYT mới phải đáp ứng mô hình bệnh tật hiện nay, thúc đẩy sử dụng thuốc hợp lý - an toàn - hiệu quả và vẫn bảo đảm khả năng chi trả của quỹ trong từng giai đoạn", bà Trang cho hay.
Theo đó, Bộ Y tế đã rà soát toàn bộ 1.037 hoạt chất trong danh mục thuốc được quy định tại Thông tư 20.
Kết quả rà soát, Bộ Y tế đề xuất bổ sung 81 thuốc mới, trong đó 76 thuốc đáp ứng tiêu chí đưa vào danh mục (các thuốc còn lại tiếp tục được rà soát, xem xét); thay đổi quy định về tỉ lệ, điều kiện thanh toán đối với 41 thuốc; và đưa ra khỏi danh mục 130 thuốc không còn đáp ứng tiêu chí.
Danh mục thuốc BHYT mới được kỳ vọng góp phần từng bước giảm gánh nặng chi phí y tế cho người bệnh. (Ảnh minh họa: TT)
Một trong những thay đổi quan trọng, tác động trực tiếp tới cơ sở khám chữa bệnh, là cách phân loại tuyến sử dụng thuốc. Thay vì gắn với hạng bệnh viện (đặc biệt, I, II, III, IV) như trước, danh mục mới được xây dựng theo hai nhóm: cơ sở có thực hiện điều trị nội trú, điều trị ban ngày và ngoại trú (cấp chuyên sâu, cấp cơ bản) và cơ sở chỉ thực hiện khám chữa bệnh ngoại trú (cấp ban đầu).
Theo Vụ BHYT, cách phân loại này phản ánh đúng phạm vi hoạt động chuyên môn và năng lực thực hiện dịch vụ kỹ thuật của từng cơ sở, giúp các bệnh viện và phòng khám được sử dụng thuốc phù hợp với năng lực chuyên môn đã được phê duyệt, thay vì bị giới hạn bởi “hạng” hành chính.
Với cách tiếp cận mới, các cơ sở khám chữa bệnh được hưởng lợi theo nhiều chiều. Thứ nhất, các đơn vị có đủ năng lực chuyên môn sẽ được sử dụng nhóm thuốc rộng hơn, phù hợp với hướng dẫn chẩn đoán và điều trị, góp phần nâng cao chất lượng chuyên môn, thu hút nhân lực, khuyến khích đội ngũ y tế phát triển kỹ thuật mới.
Thứ hai, khi tuyến cơ sở có thể sử dụng nhiều thuốc tương tự tuyến trên, áp lực dồn bệnh nhân về một số bệnh viện lớn, chuyên sâu sẽ giảm bớt, từ đó giảm quá tải, tạo điều kiện để các bệnh viện chuyên sâu tập trung nguồn lực cho những ca nặng, phức tạp.
Đối với băn khoăn đặt ra khi danh mục không còn chia theo hạng bệnh viện, nguy cơ tăng chỉ định thuốc hoặc sử dụng thuốc vượt quá năng lực chuyên môn có thể xuất hiện, Vụ trưởng Vụ BHYT cho biết, Thông tư 37/2024 của Bộ Y tế quy định rõ: cơ sở khám chữa bệnh chỉ được sử dụng thuốc phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn đã được cấp thẩm quyền phê duyệt, không sử dụng các thuốc có yêu cầu theo dõi, xử trí tai biến vượt quá năng lực.
Đồng thời, nhiều thuốc trong danh mục được gắn tỉ lệ thanh toán và điều kiện cụ thể, nhằm kiểm soát chặt chẽ việc chỉ định, tránh lạm dụng trong thực hành lâm sàng.
Quỹ BHYT ước tính tăng chi hơn 2.700 tỉ đồng
Không chỉ tác động trên phương diện chuyên môn, đề xuất về danh mục thuốc BHYT mới còn tạo ra thay đổi lớn đối với quỹ BHYT.
Đối với nhóm thuốc đề xuất bổ sung mới, có 76 thuốc đáp ứng tiêu chí đưa vào danh mục BHYT. Việc bổ sung này ước tính làm quỹ BHYT tăng chi thêm khoảng 12.245 tỉ đồng trong vòng 5 năm, tương đương khoảng 2.449 tỉ đồng mỗi năm.
Trong đó, 57 thuốc làm quỹ tăng chi 14.870 tỉ đồng, nhưng có 19 thuốc mới giúp quỹ tiết kiệm khoảng 2.625 tỉ đồng nhờ thay thế các phác đồ hoặc thuốc cũ có chi phí điều trị cao hơn.
Đối với nhóm 47 thuốc được đề xuất thay đổi điều kiện, tỉ lệ thanh toán, quỹ BHYT dự kiến tăng chi hơn 2.196 tỉ đồng trong 5 năm, trung bình gần 439 tỉ đồng mỗi năm.
Cụ thể, 40 thuốc trong nhóm này được điều chỉnh theo hướng nới rộng điều kiện hoặc tỉ lệ thanh toán, làm tăng chi khoảng 2.414 tỉ đồng; 7 thuốc khác được điều chỉnh theo hướng tiết kiệm, giúp quỹ giảm chi gần 218 tỉ đồng.
Bà Trang nhấn mạnh đây là sự điều chỉnh có chọn lọc, dựa trên hiệu quả điều trị, chi phí điều trị tương đương và khả năng cân đối quỹ.
Người dân xếp hàng mua thuốc tại Bệnh viện K cơ sở Tân Triều. Ảnh: TT
Trong khi đó, việc đưa 130 thuốc ra khỏi danh mục chủ yếu là các thuốc đã không còn lưu hành hoặc không còn được thanh toán trong những năm gần đây. Trong số này, chỉ có 9 thuốc hiện vẫn được quỹ BHYT chi trả. Khi loại các thuốc này khỏi danh mục, quỹ BHYT ước tính tiết kiệm 3.343 tỉ đồng trong năm tới.
Bên cạnh đó, việc hạn chế 3 thuốc không còn được sử dụng tại cơ sở chỉ khám chữa bệnh ngoại trú - do đòi hỏi phải theo dõi chặt chẽ tại tuyến có năng lực cao hơn - cũng giúp quỹ tiết kiệm thêm khoảng 7 tỉ đồng mỗi năm.
Tính chung, quỹ BHYT dự kiến tăng chi khoảng 13.776 tỉ đồng trong 5 năm do tác động của các nhóm thuốc bổ sung, thuốc điều chỉnh điều kiện thanh toán và thuốc đưa ra khỏi danh mục, tức trung bình mỗi năm tăng chi khoảng 2.753 tỉ đồng.
Tiết kiệm tiền đồng chi trả cho người bệnh
Đối với người bệnh, khi 76 thuốc mới được bổ sung vào danh mục BHYT, người bệnh ước tính đồng chi trả khoảng 1.513 tỉ đồng trong 5 năm, bên cạnh phần tự chi trả khoảng 4.614 tỉ đồng, tổng cộng khoảng 6.127 tỉ đồng, trung bình khoảng 1.225 tỉ đồng mỗi năm.
Nếu các thuốc này không được đưa vào danh mục, người bệnh phải tự chi trả 100% chi phí điều trị (trừ những trường hợp được tham gia chương trình hỗ trợ bệnh nhân của doanh nghiệp dược), đặc biệt là với các thuốc có chi phí cao trong điều trị ung thư, bệnh mạn tính hoặc bệnh hiếm.
Ở nhóm 47 thuốc thay đổi điều kiện và tỉ lệ thanh toán, chi phí người bệnh phải gánh chịu được tính toán khá chi tiết. Trong vòng 5 năm, người bệnh dự kiến phải tăng phần đồng chi trả thêm khoảng 271 tỉ đồng nhưng lại giảm phần tự chi trả khoảng 376 tỉ đồng, tức là tiết kiệm khoảng 105 tỉ đồng, trung bình khoảng 21 tỉ đồng mỗi năm.
Việc điều chỉnh cấu trúc chi trả theo hướng quỹ BHYT chia sẻ nhiều hơn với một số thuốc có chi phí lớn nhằm mục tiêu bảo vệ người bệnh trước nguy cơ chi tiêu y tế quá mức khả năng chi trả.
Riêng đề xuất đưa ra khỏi danh mục 130 thuốc không phát sinh chi phí tự chi trả của người bệnh, do các thuốc còn đang sử dụng trong nhóm này đều có tỉ lệ thanh toán 100%. Khi loại khỏi danh mục, người bệnh được tiết kiệm khoảng 82,6 tỉ đồng tiền đồng chi trả trong năm tới.
Với 3 thuốc không còn được sử dụng tại cơ sở khám chữa bệnh chỉ điều trị ngoại trú, người bệnh cũng không phải tự trả thêm chi phí nào vì đây đều là các thuốc đang được quỹ BHYT chi trả 100%; phần đồng chi trả của người bệnh ước tính giảm khoảng 0,81 tỉ đồng mỗi năm.
Như vậy, tổng hợp các thay đổi, trong 5 năm tới, dự kiến người bệnh đồng chi trả khoảng 1.700 tỉ đồng và tự chi trả khoảng 4.238 tỉ đồng, tương ứng tổng chi phí khoảng 5.938 tỉ đồng (trung bình khoảng 1.187 tỉ đồng/năm).
Song song, người bệnh được tiếp cận sớm hơn với thuốc mới, thuốc có hiệu quả điều trị cao, giảm nhu cầu chuyển tuyến, giảm chi phí đi lại, ăn ở và các chi phí gián tiếp khác cho thân nhân, đặc biệt với những gia đình ở xa bệnh viện tuyến trên, người cao tuổi hoặc người phải điều trị dài ngày.
Vụ trưởng Vụ BHYT Trần Thị Trang nhấn mạnh việc cập nhật danh mục thuốc lần này được thiết kế để bám sát chủ trương bảo đảm mọi người dân đều được tiếp cận dịch vụ y tế có chất lượng, giảm dần chi trực tiếp từ tiền túi, đồng thời giữ vững nguyên tắc quản lý, sử dụng quỹ BHYT an toàn, bền vững.
Dự thảo thông tư đang tiếp tục được Bộ Y tế lấy ý kiến, hoàn thiện.
Hiểu rõ về chi phí “tự chi trả” và “đồng chi trả"
Theo lý giải của Vụ BHYT, chi phí "tự chi trả" là phần chi phí nằm ngoài phạm vi được hưởng của người bệnh, còn "đồng chi trả" là phần chi phí người bệnh cùng chi trả với quỹ BHYT theo mức hưởng (ví dụ thuốc có tỉ lệ chi trả 50%, người bệnh thuộc đối tượng hưởng 80% thì người bệnh tự chi trả 50%, đồng chi trả 10% và quỹ BHYT chi trả 40%).
Vụ BHYT cho rằng, với thuốc có chi phí điều trị lớn, việc quy định tỉ lệ thanh toán là cần thiết, đồng thời khuyến khích doanh nghiệp dược triển khai các chương trình hỗ trợ phần chi phí không do quỹ BHYT chi trả để giảm gánh nặng cho người nghèo, cận nghèo và nhóm thu nhập thấp.
Về phía xã hội, tác động của danh mục thuốc BHYT mới được nhìn nhận trên hai phương diện chính.
Phương diện thứ nhất là sức khỏe. Khi danh mục thuốc được sử dụng phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn và năng lực kỹ thuật của cơ sở khám chữa bệnh, khả năng tiếp cận dịch vụ y tế và thuốc điều trị của người tham gia BHYT sẽ được cải thiện. Người dân được chẩn đoán, điều trị sớm, hạn chế biến chứng, từ đó nâng cao chất lượng sức khỏe, cải thiện chất lượng nguồn nhân lực và năng suất lao động.
Phương diện thứ hai là việc làm và phát triển kinh tế - xã hội. Khi nhu cầu sử dụng dịch vụ y tế tại tuyến cơ sở tăng lên nhờ quỹ BHYT chi trả, các cơ sở khám chữa bệnh địa phương có điều kiện mở rộng quy mô, tạo thêm công ăn việc làm và thu nhập cho nhân viên y tế, đồng thời kéo theo các dịch vụ phụ trợ, chăm sóc, lưu trú cho người bệnh và gia đình.
THANH TÚ