Quang cảnh Hội thảo.
Đây là thông tin được các chuyên gia đưa ra tại Hội thảo “Thúc đẩy, chuyển giao công nghệ, kiến thức thực hành sản xuất nông nghiệp bền vững, hiệu quả hỗ trợ thực hiện đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao”, do Trung tâm Khuyến nông vùng Đồng bằng sông Cửu Long tổ chức tại phường Long Xuyên, An Giang ngày 27/5.
Sức ép từ biến đổi khí hậu
Theo Viện Mekong, Đại học Cần Thơ, Đồng bằng sông Cửu Long có diện tích khoảng 4 triệu ha, trong đó tới 94% diện tích nằm ở cao trình dưới 2 m so với mực nước biển. Địa hình thấp, bằng phẳng khiến khu vực này trở thành một trong những vùng dễ bị tổn thương nhất trước tình trạng ngập lụt và xâm nhập mặn.
Với mạng lưới sông ngòi, kênh rạch chằng chịt cùng đường bờ biển dài 774 km vừa tạo lợi thế về giao thông, cấp thoát nước, vừa khiến đồng bằng chịu tác động mạnh của thủy triều và nước biển dâng. Nguồn nước tại Đồng bằng sông Cửu Long hiện đang chịu sức ép lớn từ biến đổi khí hậu và quá trình phát triển thủy điện, nông nghiệp ở thượng nguồn sông Mekong.
Hiện toàn lưu vực sông Mekong có 119 hồ thủy điện với tổng dung tích hữu ích gần 65 tỷ m3. Dự báo đến năm 2040, số lượng hồ chứa có thể tăng lên 168 hồ, với tổng dung tích vượt 110 tỷ m3. Sự gia tăng các hồ chứa không chỉ làm suy giảm dòng chảy lũ tự nhiên, biến động mạnh dòng chảy mùa kiệt mà còn khiến lượng phù sa đổ về Đồng bằng sông Cửu Long giảm đáng kể, kéo theo nguy cơ sạt lở bờ sông, bờ biển ngày càng nghiêm trọng.
Không chỉ thủy điện, nhu cầu sử dụng nước cho nông nghiệp ở các quốc gia thượng nguồn như Lào, Campuchia và Thái Lan cũng đang tăng nhanh. Theo dự báo, đến năm 2040, nhu cầu nước toàn lưu vực có thể tăng thêm 50-60%, riêng mùa khô có thời điểm tăng tới 70% tác động nghiêm trọng đến Đồng bằng sông Cửu Long.
Tiến sĩ Hồng Minh Hoàng, Viện Mekong (Đại học Cần Thơ) trình bày các giải pháp ứng phó hạn mặn, biến đổi khí hậu cho vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
Tiến sĩ Hồng Minh Hoàng, Viện Mekong (Đại học Cần Thơ) cho rằng, điều đáng lo ngại hiện nay là thời điểm các quốc gia thượng nguồn gia tăng khai thác nguồn nước lại trùng với giai đoạn Đồng bằng sông Cửu Long có nhu cầu sử dụng nước ngọt cao nhất cho sản xuất và sinh hoạt. Dù tổng lượng nước mùa khô đổ về đồng bằng về cơ bản vẫn lớn hơn nhu cầu sử dụng, nhưng tình trạng thiếu nước ngọt vẫn thường xuyên xảy ra do phân bố nguồn nước không đều theo không gian, thời gian và tác động ngày càng nghiêm trọng của xâm nhập mặn.
Theo Tiến sĩ Hồng Minh Hoàng, các đợt hạn hán, xâm nhập mặn cực đoan trong mùa khô 2015-2016 và 2019-2020 đã cho thấy mức độ tổn thương ngày càng lớn của Đồng bằng sông Cửu Long. Nước mặn xâm nhập sâu vào nội đồng trên diện rộng, gây thiệt hại nặng nề cho sản xuất nông nghiệp, thiếu nước sinh hoạt và ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống người dân. Đáng chú ý, biến đổi khí hậu đang khiến các hiện tượng cực đoan này diễn biến ngày càng gay gắt và khó lường hơn.
Xâm nhập mặn gia tăng
Theo các kịch bản khí hậu, nhiệt độ lưu vực sông Mekong có thể tăng từ 1,7 đến 3,5 độ C; lượng mưa mùa khô ở nhiều nơi giảm, trong khi nước biển tiếp tục dâng cao. Nếu mực nước biển dâng khoảng 1 m, gần 80% diện tích nhiều địa phương vùng Đồng bằng sông Cửu Long có nguy cơ nằm dưới mực nước biển. Trong khi đó, độ mặn được ghi nhận tăng trung bình khoảng 0,47‰ mỗi năm trong hơn hai thập niên qua.
Bên cạnh xâm nhập mặn, vùng Đồng bằng sông Cửu Long còn đối diện với một thách thức khác là tình trạng sụt lún đất. Kết quả quan trắc tại 340 điểm ở Đồng bằng sông Cửu Long trong năm 2014 và 2015 cho thấy tốc độ lún phổ biến từ 0,5-3 cm/năm; riêng vùng ven biển từ 1,5-2,5 cm/năm. Nếu không được kiểm soát, nhiều khu vực có thể bị hạ thấp nghiêm trọng từ năm 2030 - 2050.
Ngoài áp lực tự nhiên, chất lượng nguồn nước tại Đồng bằng sông Cửu Long cũng đang suy giảm do ô nhiễm từ sinh hoạt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản và rác thải chưa được xử lý triệt để. Các hoạt động nuôi tôm thâm canh, sử dụng hóa chất trong nông nghiệp và nước thải đô thị đang tạo áp lực lớn lên môi trường nước của vùng.
Bà Huỳnh Kim Định, Phó giám đốc Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, phát biểu khai mạc Hội thảo.
Bà Huỳnh Kim Định, Phó giám đốc Trung tâm Khuyến nông Quốc gia cho rằng: Đồng bằng sông Cửu Long là vùng sản xuất nông nghiệp chiến lược của cả nước, đặc biệt đối với ngành hàng lúa gạo. Tuy nhiên, vùng đất này đang chịu sức ép ngày càng lớn từ biến đổi khí hậu, hạn hán, xâm nhập mặn, suy giảm nguồn nước ngọt, chi phí sản xuất tăng cao. Trong khi thị trường ngày càng yêu cầu khắt khe hơn về chất lượng, truy xuất nguồn gốc, giảm phát thải carbon.
Theo bà Huỳnh Kim Định, phát triển nông nghiệp vùng Đồng bằng sông Cửu Long không còn chỉ là câu chuyện tăng năng suất, mà là bài toán tổng hợp về thích ứng khí hậu, sử dụng hiệu quả tài nguyên, tổ chức lại sản xuất, ứng dụng khoa học công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh của nông sản Việt Nam. Chính vì vậy, các địa phương cần có những giải pháp thực tiễn để ứng phó hạn mặn; các hợp tác xã và bà con nông dân tiếp cận được các mô hình canh tác hiệu quả; các doanh nghiệp tiếp tục nghiên cứu, đổi mới sáng tạo; các nhà khoa học tiếp tục đưa tri thức, công nghệ và kết quả nghiên cứu đi vào đồng ruộng.
Cần chuyển sang tư duy thích ứng
Công trình kiểm soát mặn trên sông Cái Lớn giúp điều tiết nguồn nước, hạn chế tác động của xâm nhập mặn đối với sản xuất nông nghiệp ở An Giang.
Theo Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, nền nông nghiệp tương lai không chỉ là nền nông nghiệp tạo ra nhiều sản lượng hơn, mà phải là nền nông nghiệp tiết kiệm tài nguyên hơn, phát thải thấp, an toàn, có giá trị cao hơn và mang lại thu nhập tốt hơn cho người nông dân. Vì vậy, muốn chuyển đổi nông nghiệp thành công, không thể chỉ dựa vào một chủ thể riêng lẻ. Vì vậy cần có sự liên kết chặt chẽ giữa Nhà nước, nhà khoa học, doanh nghiệp, hợp tác xã và người nông dân. Trong số đó, khuyến nông phải giữ vai trò là cầu nối tri thức, cầu nối công nghệ, cầu nối thị trường và là lực lượng đồng hành trực tiếp cùng nông dân trong quá trình chuyển đổi sản xuất.
Tại hội thảo, các chuyên gia, nhà khoa học cũng đánh giá, biến đổi khí hậu không chỉ mang đến thách thức mà còn mở ra cơ hội để Đồng bằng sông Cửu Long chuyển đổi mô hình phát triển. Vùng cần chuyển mạnh từ tư duy “chống lại tự nhiên” sang “thích ứng với tự nhiên”, khai thác hợp lý tài nguyên nước, giảm phụ thuộc vào nước ngọt và nâng cao năng lực dự báo, điều hành nguồn nước.
Tiến sĩ Hồng Minh Hoàng cho rằng, biến đổi khí hậu đang thúc đẩy quá trình chuyển đổi từ năng lượng hóa thạch sang các nguồn năng lượng sạch như điện mặt trời, điện gió, thủy điện và than sinh học. Đây cũng là cơ hội để phát triển công nghệ xanh, ứng dụng các giải pháp tiết kiệm năng lượng và giảm phát thải khí nhà kính, hướng tới phát triển bền vững.
“Để nâng cao khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu, các địa phương cần ưu tiên đầu tư hạ tầng bền vững như công trình quản lý nguồn nước, đê chống ngập, công trình ngầm và nhà ở chống bão. Việc phát triển hạ tầng thích ứng không chỉ bảo vệ đời sống người dân mà còn thúc đẩy phát triển đô thị xanh”, Tiến sĩ Hồng Minh Hoàng cho biết.
Các chuyên gia cũng cho rằng, biến đổi khí hậu đặt ra yêu cầu đổi mới ngành nông nghiệp theo hướng hiện đại, bền vững với các mô hình như nông nghiệp thông minh, canh tác sinh học, liên kết sản xuất và lai tạo giống cây trồng thích ứng khí hậu. Những giải pháp này góp phần đảm bảo an ninh lương thực và nâng cao giá trị nông sản.
Biến đổi khí hậu là vấn đề toàn cầu, để ứng phó các chuyên gia cũng cho rằng cần có sự chung tay của các quốc gia thông qua tăng cường hợp tác quốc tế. Trong số đó, việc hợp tác quốc tế trong chia sẻ công nghệ, nguồn lực tài chính, kinh nghiệm quản lý và nghiên cứu khoa học sẽ giúp vùng Đồng bằng sông Cửu Long nâng cao hiệu quả ứng phó với biến đổi khí hậu, giảm thiểu rủi ro thiên tai và bảo vệ môi trường sống cho các thế hệ tương lai.
Bài và ảnh: Thanh Sang (TTXVN)