Tăng quyền với hệ tiêu chí chặt chẽ sẽ gỡ khó cho địa phương
Dự thảo Luật Quy hoạch (sửa đổi) được xem là đạo luật gốc trong lĩnh vực quy hoạch, có phạm vi điều chỉnh rộng, độ phức tạp cao và tác động trực tiếp đến việc khai thác hiệu quả các nguồn lực, tiềm năng, cũng như bảo đảm phát triển bền vững. Vì vậy, quá trình hoàn thiện dự thảo đặt lên vai các đại biểu Quốc hội trách nhiệm rất lớn. Theo ĐBQH Phạm Trọng Nhân (TP. Hồ Chí Minh), để hoàn thiện tốt nhất, cần tiếp cận dự thảo Luật như một “hệ điều hành dữ liệu”, chứ không chỉ là một "bản vẽ kỹ thuật".
ĐBQH Phạm Trọng Nhân (TP. Hồ Chí Minh) phát biểu. Ảnh: Hồ Long
Đại biểu cho rằng, Việt Nam đã bước vào kỷ nguyên quản trị dựa trên dữ liệu, khi kinh tế số năm 2024 chiếm gần 19% GDP và duy trì tốc độ tăng trưởng trên 20%/năm, nhanh gấp ba lần GDP, thuộc nhóm cao nhất ASEAN. Chính phủ cũng đang trình các luật về dữ liệu, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo (AI), trung tâm dữ liệu, kinh tế xanh, kỳ vọng tạo động lực tăng trưởng mới. Tuy nhiên, tốc độ điều chỉnh quy hoạch hiện nay vẫn mang tính tuyến tính, mất từ 12 - 18 tháng, không theo kịp làn sóng phát triển mới như bán dẫn, trung tâm dữ liệu, năng lượng sạch, đổi mới sáng tạo, logistics và tài chính quốc tế.
Trước thực tế này, đại biểu nhấn mạnh, những cơ hội nêu trên không thể chờ quy trình, dự thảo Luật phải thực sự mở đường cho một động lực mới, không thể là một “khung cứng” khiến các cơ hội bị chậm lại. Trong đó, theo đại biểu, Điều 54 về điều chỉnh quy hoạch cần bổ sung cơ hội phát triển cấp quốc gia có tác động lan tỏa và yêu cầu triển khai gấp làm căn cứ điều chỉnh quy hoạch, bên cạnh các căn cứ truyền thống, như thiên tai, biến động, sáp nhập địa giới. Đồng thời, giao Chính phủ định lượng rõ ngưỡng cơ hội (quy mô vốn, hàm lượng công nghệ, tác động tới năng suất, việc làm chất lượng cao, kết nối chuỗi cung ứng). Và, với những dự án đạt ngưỡng đó cho phép rút tối thiểu 50% thời gian thẩm định, thời hạn tối đa 6 tháng.
“Tốc độ phải trở thành một chỉ tiêu thiết kế ngay trong dự thảo Luật Quy hoạch (sửa đổi) nếu chúng ta thật sự muốn các trung tâm dữ liệu, bán dẫn, đổi mới sáng tạo, hay tài chính quốc tế trở thành động cơ kéo tăng trưởng hai con số. Không thể là kỳ vọng qua những thủ tục nhiêu khê trên giấy”, đại biểu nêu rõ.
Dẫn lại các nghiên cứu quốc tế, đại biểu nhấn mạnh, việc thoát bẫy thu nhập trung bình không thể dựa vào việc tăng thêm vốn và lao động, mà phải dựa vào năng suất, tri thức và chất lượng thể chế. Điều này khiến tích hợp quy hoạch chỉ đặt trên giấy, không đặt trong thuật toán, trong khi chính thuật toán mới giúp phát hiện xung đột quy hoạch, tối ưu sử dụng đất, tối ưu đầu tư công, và qua đó nâng năng suất và chất lượng tăng trưởng.
Do vậy, đại biểu Phạm Trọng Nhân đề nghị, dự thảo Luật Quy hoạch (sửa đổi) phải quy định ở cấp độ hệ điều hành quốc gia ba nhóm chuẩn dữ liệu: chuẩn không gian với một hệ quy chế quốc gia và bản đồ nền thống nhất; chuẩn thuộc tính với định nghĩa thống nhất về các loại đất, chỉ tiêu môi trường, kết cấu hạ tầng và năng lực sản xuất; chuẩn kết nối, yêu cầu tất cả bộ, ngành, địa phương phải chia sẻ dữ liệu quy hoạch qua API quốc gia. Đồng thời, quy định rõ trách nhiệm pháp lý với người đứng đầu nếu không cập nhật dữ liệu, hoặc cố tình “cát cứ dữ liệu”.
Đại biểu cũng nhấn mạnh, việc ủy quyền có điều kiện cho địa phương thực hiện điều chỉnh cục bộ phải đi kèm với công cụ dữ liệu và hậu kiểm mạnh, không buông lỏng. Việc tích hợp quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch đô thị, nông thôn cũng phải đi kèm với bộ tiêu chí chung, nếu không sẽ tạo ra những khoảng trống pháp lý - là những mảnh đất màu mỡ cho khiếu kiện đất đai và thất thoát nguồn lực.
Đặc biệt, theo đại biểu, Quốc hội cần chuyển từ giám sát “đúng quy trình” sang giám sát “giá trị sinh ra từ quy hoạch” qua cơ chế báo cáo hậu kiểm 3 năm/lần trên nền tảng dữ liệu số; công bố bản đồ xung đột quy hoạch quốc gia.
Mới liệt kê tình huống, chưa có điểm kết thúc xử lý mâu thuẫn quy hoạch
Cơ chế xử lý mâu thuẫn giữa các quy hoạch nhanh nhất là một yêu cầu được nhiều đại biểu Quốc hội đưa ra với việc sửa đổi Luật lần này. Bởi, điều này sẽ giúp các dự án đầu tư có thể triển khai thực hiện nhanh, không phải chờ các cơ quan điều chỉnh quy hoạch xong mới được thực hiện.
Tại Điều 6 của dự thảo Luật đã đưa ra những hướng xử lý trường hợp có mâu thuẫn giữa các quy hoạch. Nhưng, ĐBQH Nguyễn Tâm Hùng (TP. Hồ Chí Minh) cho rằng, cơ chế điều chỉnh vẫn thiên về giải thích hành chính. Trong khi đó, thực tiễn cho thấy, có những trường hợp các quy hoạch ngành, quy hoạch vùng, quy hoạch đô thị và quy hoạch sử dụng đất chưa thống nhất dẫn đến chậm triển khai dự án và gia tăng chi phí liên quan của nhà đầu tư.
Do vậy, đại biểu đề nghị Ban soạn thảo cân nhắc nghiên cứu bổ sung cơ chế điều phối và kết luận cuối cùng khi phát sinh xung đột quy hoạch giữa các cấp, các ngành; xác định thời hạn xử lý rõ ràng, trách nhiệm giải trình cụ thể. "Cơ chế này không thay thế thẩm quyền của bất kỳ cơ quan nào, nhưng bảo đảm các bất đồng được xử lý dứt điểm, kịp thời, tránh tình trạng hồ sơ phải xin ý kiến nhiều vòng, kéo dài tiến độ thực hiện dự án", đại biểu nhấn mạnh.
Liên quan đến quy định tại Điều 48 về đánh giá sự phù hợp của dự án với quy hoạch trong chấp thuận hoặc phê duyệt chủ trương đầu tư, quyết định đầu tư, ĐBQH Lê Thanh Hoàn (Thanh Hóa) nhận thấy, nguyên tắc “dự án của ngành, lĩnh vực nào thì căn cứ vào quy hoạch liên quan đến ngành, lĩnh vực đó để đánh giá sự phù hợp của dự án” chưa thực sự hợp lý, bởi lẽ không phải ngành, lĩnh vực nào cũng có quy hoạch hoặc sẽ có quá nhiều quy hoạch có liên quan.
Đại biểu đề xuất chỉnh lý quy định này theo hướng: việc chấp thuận hoặc phê duyệt chủ trương đầu tư của dự án căn cứ vào một trong các quy hoạch thuộc hệ thống quy hoạch để đánh giá sự phù hợp của dự án. Và, quy định khái quát theo hướng, khi chấp thuận chủ trương đầu tư đối với dự án đầu tư chỉ cần căn cứ vào quy hoạch định hướng (như quy hoạch tổng thể quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh); còn khi phê duyệt chủ trương đầu tư chỉ căn cứ vào 1 loại quy hoạch trực tiếp nhất đóng vai trò là một công cụ quản lý hành chính cụ thể (như quy hoạch chi tiết ngành hay quy hoạch đô thị và nông thôn).
Đại biểu cũng tán thành cần làm rõ hơn cơ chế xử lý mâu thuẫn khi dự án đã được triển khai, nhưng sau đó phát hiện mâu thuẫn, tránh trường hợp nhà đầu tư phải chịu thiệt hại mà không do lỗi của mình. Đồng thời, quy định cụ thể cơ chế để xử lý, điều chỉnh phải bảo đảm linh hoạt, tháo gỡ được khó khăn vướng mắc, tránh phát sinh sự tùy tiện.
Mặt khác, ĐBQH Hà Sỹ Đồng (Quảng Trị) lưu ý, quy định tại Điều 6 của dự thảo Luật mới liệt kê tình huống nhưng thiếu điểm kết thúc tranh chấp. Khi không có cơ quan phân xử cuối, quy hoạch có thể kéo dài nhiều năm. Do vậy, đại biểu đề nghị, cần bổ sung quy định để xác định rõ Thủ tướng Chính phủ là cơ quan ra quyết định cuối cùng đối với các mâu thuẫn lớn, đồng thời đặt thời hạn xử lý để tránh trì hoãn.
Thanh Hải