Hệ quả dây chuyền
KTSG: Báo cáo Kinh tế tư nhân 2025 của Liên đoàn Công nghiệp và Thương mại Việt Nam (VCCI) đã chỉ ra bốn điểm nghẽn của khu vực tư nhân gồm: (1) thị trường đầu ra; (2) tiếp cận vốn; (3) minh bạch và dự báo chính sách; (4) chi phí không chính thức. Các ông bình luận như thế nào về vấn đề này?
- GS.TS. Nguyễn Đông Phong và TS. Nguyễn Kim Đức: Đầu tiên, chúng tôi đánh giá rất cao Báo cáo năm 2025 do VCCI thực hiện, đây là một báo cáo rất công phu về kinh tế tư nhân.
Bốn điểm nghẽn do VCCI công bố hoàn toàn tương đồng với một số thực trạng mà chúng tôi ghi nhận từ nghiên cứu được thực hiện độc lập từ năm 2025, thông qua việc khảo sát và phỏng vấn sâu các lãnh đạo doanh nghiệp thuộc kinh tế tư nhân. Chúng tôi nhận thấy kinh tế tư nhân Việt Nam hiện nay có bốn điểm mạnh, năm hạn chế, năm cơ hội và sáu thách thức (xem hình 1).
Dưới góc độ nghiên cứu, chúng tôi nhìn nhận các điểm nghẽn này không tồn tại độc lập mà là một hệ quả dây chuyền:
- Về thị trường đầu ra: Sự suy giảm tổng cầu toàn cầu cộng hưởng với các tiêu chuẩn mới về kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và số hóa đang tạo áp lực rất lớn lên khả năng bám trụ thị trường. Khu vực tư nhân Việt Nam dù am hiểu thị trường nội địa nhưng năng lực đáp ứng còn hạn chế để tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
- Về tiếp cận vốn: Đây có thể được hiểu là điểm nghẽn “truyền thống”. Phần lớn doanh nghiệp tư nhân đang rơi vào cái bẫy “khát vốn dài hạn” nhưng không thể tiếp cận tín dụng do thiếu tài sản thế chấp và hệ thống báo cáo tài chính chưa chuẩn hóa, buộc phải đối mặt với chi phí vốn cao hơn so với khả năng đáp ứng. Bên cạnh đó, vốn ở đây còn cần được hiểu không chỉ là tài chính, đất đai, mà còn là khả năng hấp thụ khoa học công nghệ - đổi mới sáng tạo - chuyển đổi số. Điểm nghẽn này càng nghiêm trọng hơn ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME).
- Về tính minh bạch và chi phí không chính thức: Sự bất định trong dự báo chính sách và quy định chồng chéo tại các địa phương tạo ra rủi ro pháp lý lớn. Để tự vệ hoặc đẩy nhanh thủ tục, doanh nghiệp có thể phải chấp nhận các chi phí không chính thức. Điều này không chỉ bào mòn lợi nhuận, mà đáng lo ngại hơn, làm suy giảm động lực đầu tư dài hạn.
Việt Nam đặt mục tiêu bước vào kỷ nguyên vươn mình với kỳ vọng tăng trưởng GDP hai con số từ năm 2026. Nếu không hóa giải ngay các điểm nghẽn cũ này, mục tiêu đó sẽ đối diện với nhiều thách thức bởi hai lý do:
Thứ nhất, từ khía cạnh lực cản tích lũy, khu vực tư nhân đóng góp lớn vào GDP và việc làm nhưng cấu trúc chủ yếu là siêu nhỏ và nhỏ, năng lực quản trị hạn chế. Thiếu cơ chế khơi thông nguồn vốn và đất đai, doanh nghiệp không thể tích lũy tư bản để chuyển dịch về quy mô.
Thứ hai là tâm lý phòng thủ ngắn hạn. Môi trường kinh doanh bất định khiến các chủ doanh nghiệp chuyển sang chiến lược thận trọng, phòng thủ hơn trong quyết định đầu tư, ưu tiên dòng tiền ngắn hạn và các lĩnh vực đầu cơ thay vì bỏ vốn đầu tư vào công nghệ mũi nhọn, hạ tầng xanh hay số hóa - những động lực cốt lõi cho tăng trưởng chất lượng cao.
KTSG: Thưa ông, nếu phân loại theo ưu tiên, khả năng hóa giải bốn điểm nghẽn nói trên như thế nào? Và cách hóa giải của nhóm này có thể hỗ trợ nhóm kia ra sao?
- Dựa trên khung lý thuyết phát triển khu vực tư nhân của học giả Miyamoto và Chiofalo (2017), chúng tôi đề xuất phân định các điểm nghẽn trọng yếu trên thành ba tầng nấc để định vị chính xác trọng tâm điều hành:
- Tầng thượng nguồn (thể chế và chính sách): Đây là nhóm ưu tiên 1, phản ánh điểm nghẽn về thể chế, minh bạch và dự báo chính sách. Thể chế là gốc rễ định hình hành vi thị trường. Khả năng hóa giải nằm ở tư duy lập pháp: chuyển mạnh từ “tiền kiểm” sang “hậu kiểm”, hạn chế tối đa việc hình sự hóa các quan hệ kinh tế thuần túy và thực thi cơ chế một cửa thực chất.
Bên cạnh đó, bối cảnh mới đòi hỏi hệ thống pháp luật phải có tính linh hoạt và khả năng thích ứng cao hơn trước. Theo đó, các văn bản quy phạm pháp luật cần được thay đổi tư duy soạn thảo và trình bày, chuyển dịch từ mang tính quy định (rule) sang tính nguyên tắc (principle).
Khoa học công nghệ - đổi mới sáng tạo - chuyển đổi số càng phát triển, xã hội thay đổi càng nhanh chóng, văn bản pháp lý được trình bày mang tính quy định, tính liệt kê nhiều chừng nào thì sẽ dễ lạc hậu và gián tiếp kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế, tạo trở lực cho sự phát triển, trong đó có kinh tế tư nhân.
- Tầng trung nguồn (vận hành thị trường): Đây là ưu tiên 2, bao gồm tiếp cận vốn và giảm thiểu chi phí không chính thức. Nhóm này phản ánh hiệu năng kỹ thuật của các kênh trung gian tài chính và bộ máy hành chính công.
- Tầng hạ nguồn (năng lực nội tại): Đây là ưu tiên vi mô, phản ánh thị trường đầu ra, là cấp độ vi mô, phụ thuộc vào năng lực cạnh tranh và sự thích ứng của chính doanh nghiệp.
Do đó, chiến lược hóa giải phải đi từ thượng nguồn xuôi xuống hạ nguồn:
- Khơi thông thượng nguồn sẽ góp phần giải tỏa trung nguồn: Khi chính sách minh bạch, nhất quán và quy trình được nhất quán, lợi ích lớn nhất của doanh nghiệp là loại bỏ được rủi ro pháp lý “bất định”, yếu tố trọng yếu làm suy giảm khả năng hoạch định các chiến lược phát triển dài hạn. Quan trọng hơn, thể chế an toàn sẽ góp phần kích hoạt tính hiệu quả của tầng trung nguồn khi các nguồn lực khan hiếm như vốn, đất đai, tài nguyên và cơ hội công nghệ sẽ được phân bổ bình đẳng, thông suốt theo cơ chế thị trường thay vì bị nghẽn bởi rào cản hành chính.
- Giải phóng trung nguồn sẽ tạo lực đẩy cho hạ nguồn: Khi các yếu tố đầu vào của thị trường lưu thông thuận lợi và không bị phân tán bởi chi phí ẩn hay thủ tục thiếu minh bạch, doanh nghiệp sẽ tiết kiệm tối đa chi phí cơ hội và thời gian hành chính. Toàn bộ nguồn lực thặng dư này sẽ giúp doanh nghiệp tập trung phát huy hiệu quả tái đầu tư vào hoạt động tạo giá trị gia tăng cao. Đây chính là chìa khóa giúp doanh nghiệp chủ động hóa giải bài toán thị trường đầu ra ở vùng hạ nguồn để tích hợp sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Về kinh nghiệm quốc tế, Đài Loan thành công nhờ mô hình liên kết “ba nhà” (nhà nước - viện nghiên cứu - doanh nghiệp), lấy các cấu trúc SME công nghệ làm trung tâm sinh thái để tháo gỡ rào cản kỹ thuật. Hàn Quốc khẳng định vai trò kiến tạo tối đa của nhà nước thông qua các bộ chỉ số đánh giá rủi ro, bảo hộ thị trường nội địa giai đoạn đầu và thiết lập hàng rào ngăn chặn sự chèn ép của các tập đoàn lớn đối với doanh nghiệp nhỏ.
Không gian chính sách cho đổi mới sáng tạo
KTSG: Nhiều quan điểm cho rằng để đạt được mục tiêu tăng trưởng hai con số Việt Nam cần chú trọng đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp. Nếu bước vào quá trình này, không gian chính sách cho khu vực tư nhân nên được mở rộng như thế nào để họ có thể tìm ra con đường tồn tại và thành công?
- Đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp là một kênh rất quan trọng để thúc đẩy tăng trưởng, cả ở cấp quốc gia và doanh nghiệp, nhưng cũng tiềm ẩn một số rủi ro. Để kinh tế tư nhân dám dấn thân, không gian chính sách phải được mở rộng đột phá trên năm phương diện:
- Thể chế hóa khung pháp lý thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) toàn diện: Quy định rõ ràng nguyên tắc doanh nghiệp tham gia sandbox được miễn trừ trách nhiệm pháp lý đối với các quy định cũ chưa kịp sửa đổi nếu xảy ra rủi ro không do trục lợi; đồng thời tối giản hóa thủ tục xác lập quyền sở hữu trí tuệ.
- Mở rộng không gian vốn mạo hiểm công - tư: Thay vì tư duy cấp vốn dựa trên tài sản thế chấp, Nhà nước cần thành lập các quỹ mạo hiểm về đổi mới sáng tạo và chuyển đổi xanh. Nguồn vốn này đóng vai trò bảo chứng, đồng đầu tư cùng các quỹ mạo hiểm tư nhân để tài trợ trực tiếp cho các dự án nghiên cứu và phát triển (R&D) có tiềm năng thương mại hóa cao.
- Áp dụng ưu đãi thuế cho chi phí R&D: Chuyển từ cơ chế ưu đãi dựa trên doanh thu/lợi nhuận sang ưu đãi dựa trên chi phí đầu tư. Miễn thuế có thời hạn cho các nhà đầu tư khi bỏ vốn vào startup công nghệ.
- Kiến tạo thị trường thông qua mua sắm công: Nhà nước có thể đóng vai trò là khách hàng tiên phong. Cần ban hành cơ chế ưu tiên phù hợp trong đấu thầu, mua sắm công, mua sắm các sản phẩm, giải pháp công nghệ do kinh tế tư nhân trong nước nghiên cứu, sản xuất nhằm giúp họ vượt qua giai đoạn “thung lũng chết” của sản phẩm mới.
- Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền theo thế mạnh từng địa phương: Các địa phương khác nhau thường có sự am hiểu về đặc trưng và nhu cầu thị trường khác nhau. Do đó, việc phân cấp, phân quyền không chỉ hỗ trợ doanh nghiệp trong việc xác định tiềm năng của thị trường đầu ra mà còn gắn chặt với các hoạt động phát sinh trên địa bàn, từ đó hỗ trợ giải quyết những thủ tục của doanh nghiệp.
KTSG: Trong số các điểm nghẽn được chỉ ra, điểm nghẽn nào sẽ ảnh hưởng lớn nhất tới động lực đổi mới sáng tạo và Việt Nam nên xử lý vấn đề này như thế nào, thưa ông?
- Dưới góc nhìn khoa học và quan điểm của chúng tôi, điểm nghẽn về “Minh bạch và dự báo chính sách” là rào cản có sức ảnh hưởng lớn nhất. Bởi lẽ, bản chất của đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp là chấp nhận rủi ro, thử nghiệm cái mới và cần thời gian dài để thu hồi vốn.
Nếu một môi trường chính sách thiếu tính dự báo, quy định chồng chéo và thay đổi bất ngờ, doanh nghiệp sẽ không thể tính toán được rủi ro pháp lý. Khi rủi ro pháp lý cao, khu vực tư nhân sẽ chọn giải pháp an toàn là kinh doanh ngắn hạn, thay vì dũng cảm đổ tiền vào R&D hay đổi mới công nghệ.
Để khai thông điểm nghẽn thể chế này, chúng tôi kiến nghị những quyết sách căn cơ sau cần thực hiện:
- Đổi mới tư duy quản lý: Chuyển dịch từ tư duy “quản lý bằng quy trình, thủ tục” sang tư duy “kiến tạo, quản lý dựa trên hiệu quả và hiệu năng”. Chuyển từ cơ chế “tiền kiểm” (hỏi - cho) sang “hậu kiểm” đi kèm minh bạch hóa.
- Thực hiện nguyên tắc lập pháp minh bạch: Các cơ quan quản lý nhà nước khi ban hành chính sách phải tăng cường vai trò tư vấn, hướng dẫn và có chiến lược truyền thông chính sách chủ động, rõ ràng để doanh nghiệp kịp thời nắm bắt. Cần giảm thiểu và tiến tới khắc phục tình trạng các thông tư hướng dẫn chồng chéo giữa các bộ ngành.
- Thực chất hóa mô hình liên kết “ba nhà” thông qua cơ chế chia sẻ rủi ro và đặt hàng công nghệ: Mô hình liên kết giữa nhà nước - nhà khoa học (trường đại học/viện nghiên cứu) - nhà doanh nghiệp tư nhân từ lâu đã được nhắc đến, nhưng trên thực tế vẫn chạy theo ba đường ray độc lập do thiếu “chất xúc tác” thể chế. Để giải quyết rào cản dự báo chính sách, Nhà nước cần chuyển đổi vai trò từ “người quản lý” sang “người kết nối và bảo trợ”.
Từ mô hình “ba nhà” này, có thể nâng cấp và ứng dụng mô hình 4P (Public - Private - People - Partnership), mô hình 4P khi thực hiện cho từng chủ đề nhỏ của kinh tế tư nhân, kết hợp cả bộ 3 - Nghị quyết 57 - Nghị quyết 68 - Nghị quyết 79 sẽ huy động hiệu quả sự tham gia đồng thời của khu vực công - khu vực tư - người dân/cộng đồng, tạo động lực phát triển toàn diện và lâu dài.
Hoàng Hạnh