Hồi sinh vùng dâu tằm xứ Quảng thời Tây Sơn

Hồi sinh vùng dâu tằm xứ Quảng thời Tây Sơn
2 giờ trướcBài gốc
Nơi đây một thời từng là biền dâu ngút ngàn của làng Trường An (xã Hà Nha, Đà Nẵng). Ảnh: V.T
Vùng chiến địa
Từ thế kỷ 17, cùng sự hình thành và phát triển của Dinh trấn Thanh Chiêm, Quảng Nam trở thành “vương quốc” của nghề dâu tằm tơ lụa ở Đàng Trong, với các làng nghề Mã Châu, Giao Thủy, Đông Yên, Phú Bông... nổi tiếng “đàn ông trồng dâu, đàn bà dệt lụa”.
Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Phước Tương, dưới thời chúa Nguyễn, nông dân xứ Quảng đã biết kết hợp các kinh nghiệm của cha ông từ Đàng Ngoài với kinh nghiệm trồng dâu, nuôi tằm của người Champa cùng bí quyết dệt lụa của người Minh Hương, nên các mặt hàng tơ tằm của xứ Quảng không thua kém gì của Trung Hoa vào thời bấy giờ.
Thế nhưng, cuối thế kỷ 18, xứ Quảng lại trở thành vùng chiến địa, là địa bàn tranh chấp khốc liệt tay ba: Nguyễn - Trịnh - Tây Sơn. Sau khi chiến tranh kết thúc, tình hình kinh tế - xã hội nơi đây đầy rối ren, phức tạp. Người dân vốn đã khổ cực vì sưu cao, thuế nặng dưới thời cai trị của các Chúa Nguyễn, lại thêm lao đao bởi hậu quả của nạn binh đao, dịch bệnh, thiên tai. Ruộng dâu bị bỏ hoang, phần do dân phiêu tán các nơi, phần vì dã thú (như voi, hổ, sài lang…) từ rừng núi tràn xuống đồng bằng phá hoại…
Vùng dâu làng Trường An (nay thuộc xã Hà Nha, thành phố Đà Nẵng) cũng rơi vào tình cảnh như thế. Từng nổi tiếng trù phú ven sông Vu Gia, nhưng chỉ trong vòng 6 năm, toàn bộ ruộng dâu đều biến thành vùng hoang dã bán sơn địa đầy nguy hiểm, tình cảnh rất bi đát.
Những quyết sách hồi sinh vùng dâu tằm
Trước tình hình nông nghiệp bất ổn, chính quyền Tây Sơn thời vua Thái Đức (Nguyễn Nhạc) đã kịp thời ban hành nhiều quyết sách tích cực để khuyến khích nông dân khai hoang phục hóa, sớm khôi phục sản xuất.
Trong bài viết Dấu ấn Tây Sơn qua một số tài liệu làng xã và dòng họ tại xứ Quảng, TS. Trần Đình Hằng cho biết: Nhà nước cho áp dụng cơ chế “canh trưng”. Theo đó, cho phép người dân đăng ký canh tác trên đất hoang, được ưu đãi có thời hạn: trong 3 năm cải tạo đất không phải đóng thuế. Sau khi đất đã cho thu hoạch ổn định thì mới tiến hành khai bạ và nộp quan thuế. Cạnh đó, còn có cơ chế “tiên chiếm”, nghĩa là ai khai phá đất hoang trước thì có quyền canh tác trên đất đó.
Nhà nước cũng khẩn trương cho lập lại điền bạ, ưu tiên việc đo đạc, kê khai lại từng thước đất bị bỏ hoang để đưa vào sản xuất. Ruộng dâu được quản lý cực kỳ khắt khe: Nếu khai gian dối hoặc thiếu dù chỉ “một thước”, người khai sẽ bị tịch thu toàn bộ gia sản và chịu tội chết. Lại có hẳn hệ thống thuế riêng biệt cho nghề trồng dâu, gọi là “lệ thuế trồng dâu”. Ruộng dâu tính thuế theo diện tích khai báo thực tế, có nơi mức thuế là 1 quan/mẫu.
Giao Thủy (Đại Lộc, Quảng Nam) có mặt trong nội dung quảng bá thương hiệu dệt lụa L. Delignon trên tạp chí Le Courrier Colonial illustré số ra ngày 15/12/1928. Ảnh: Tư liệu.
Các chính sách khuyến nông của nhà Tây Sơn là đòn bẩy quan trọng, khích lệ một số nông dân đất Quảng có tâm huyết và năng lực mạnh dạn xin đầu tư tái thiết vùng dâu.
Bài viết đã dẫn của TS. Trần Đình Hằng cung cấp thông tin rất đáng quan tâm: Theo Bản kê khai thế thứ họ Mai được lập năm Thành Thái thứ 7 (1895), Mai Thế Nghị, người làng Trường An, từng giữ chức Cai hợp, vào năm Thái Đức thứ 4 (1781), đã làm đơn xin canh trưng đất đai. Được sự chấp thuận của chính quyền Tây Sơn, ông đã quy tụ nhân lực, tập hợp những người dân còn sót lại trong làng Trường An hoặc mới vừa trở về để tổ chức khai hoang phục hóa vùng dâu một cách bài bản, căn cơ.
Với những nỗ lực vượt bậc của ông Mai Thế Nghị và dân làng kết hợp với cơ chế, chính sách nông nghiệp tích cực của nhà Tây Sơn, từ 3 mẫu bị hoang hóa, biền dâu Trường An dần dà trở nên bạt ngàn xanh ngút tầm mắt trên bãi bồi ven sông Vu Gia. Nghề nuôi tằm nhờ vậy cũng hồi sinh ngoạn mục như trước thời chiến tranh loạn lạc. Thành quả này là trụ cột giúp phục hồi và phát triển ổn định kinh tế vùng hạ lưu sông Vu Gia lúc bấy giờ.
Đáng chú ý, từ nền tảng thời Tây Sơn, diện tích đất trồng dâu ở Trường An đã phát triển lên đến hơn 107 mẫu dưới thời Gia Long (theo Địa bạ triều Nguyễn lập năm 1812). Không riêng ở Trường An, nghề dâu tằm ở xứ Quảng phát triển thịnh đạt với hình ảnh nên thơ còn mãi lưu truyền qua câu ca: “Con tằm Đại Lộc xe tơ/ Bãi dâu Đại Lộc lờ mờ bên sông/ Hỡi cô buôn thị bán hồng/ Đi qua Đại Lộc thấy tằm nong mà thèm”.
Khi thực dân Pháp áp đặt ách thống trị nước ta, dâu tằm xứ Quảng sớm lọt vào “mắt xanh” của các nhà tư bản nước ngoài. Năm 1903, Công ty Delignon của Lucien Delignon và Camille Paris, có nhà máy ươm tơ dệt lụa tại Phú Phong (Bình Định), đã tìm đến làng Giao Thủy (Đại Lộc, Quảng Nam) - nằm ở bờ bắc sông Thu Bồn, là trung tâm của vùng tam giác trồng dâu, nuôi tằm rộng lớn: Đại Lộc - Điện Bàn - Duy Xuyên - để mua một diện tích đất, xây dựng nhà xưởng, lắp đặt máy móc hiện đại, lập một cơ sở ươm tơ hấp kén, được người dân xứ Quảng gọi bằng cái tên dân dã là “Tiệm ươm Giao Thủy”. Công ty cũng cho đắp con đường từ Giao Thủy nối với các vùng lân cận để vận chuyển hàng hóa.
Với 100 chảo tơ cùng hơn 300 công nhân, “Tiệm ươm Giao Thủy” áp dụng phương pháp ươm tơ bằng máy (ươm cơ khí) thay cho phương pháp thủ công truyền thống của dân địa phương. Điều này giúp sợi tơ xứ Quảng đều, bóng và đạt tiêu chuẩn xuất khẩu sang Pháp, cung cấp nguyên liệu cho Lyon - “thủ phủ lụa” của châu Âu.
Không dừng lại ở ươm tơ, đến ngày 1/5/1929 Công ty Delignon còn khánh thành nhà máy kéo sợi Giao Thủy với sự tham dự của Khâm sứ Trung Kỳ Jabouille và Công sứ Quảng Nam Colombo.
VÂN TRÌNH
Nguồn Đà Nẵng : https://baodanang.vn/hoi-sinh-vung-dau-tam-xu-quang-thoi-tay-son-3337823.html