Khát vọng kéo 300 tỷ USD dòng vốn hàng hải về lại Việt Nam

Khát vọng kéo 300 tỷ USD dòng vốn hàng hải về lại Việt Nam
2 giờ trướcBài gốc
Nhiều năm qua, dọc các cụm cảng trọng điểm từ TP.HCM đến Cái Mép - Thị Vải, hình ảnh những siêu tàu container (ULCV) nối đuôi cập bến đã trở thành biểu tượng cho vị thế ngày càng lớn của Việt Nam trong thương mại toàn cầu. Từ “siêu cảng” Gemalink, hệ thống Cát Lái đến đại dự án cảng trung chuyển quốc tế Cần Giờ đang thành hình, Việt Nam không còn là điểm trung chuyển bên lề, mà đã vươn lên thành 'mắt xích chiến lược' quan trọng trong chuỗi cung ứng thế giới.
Năm 2025, hệ thống cảng biển khu vực TP.HCM ghi nhận sản lượng thông quan kỷ lục hơn 24 triệu TEU, vươn lên đứng thứ 8 toàn cầu theo bảng xếp hạng của Lloyd’s List. Và phía sau con số ấy là dòng chảy hàng hóa trị giá khoảng 200 tỷ USD mỗi năm, tương đương gần 20% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu cả nước.
Nhưng, đằng sau ánh hào quang của những “đại công trường logistics” vẫn tồn tại một nghịch lý kéo dài suốt nhiều thập kỷ: Việt Nam đang làm chủ phần “vỏ” của thương mại toàn cầu, tức dòng chảy vật chất của hàng hóa, trong khi phần “lõi” tạo ra lợi nhuận lớn nhất là dòng chảy tài chính lại gần như nằm trong tay các định chế ngoại.
Nói cách khác, hàng hóa có thể đi qua cảng Việt Nam, nhưng lợi nhuận từ tài trợ thương mại, bảo lãnh, thanh toán quốc tế hay bảo hiểm hàng hải... vẫn chủ yếu chảy về túi các “ông lớn” nước ngoài.
"Việt Nam đang sở hữu những bến cảng tỷ USD, nhưng chưa thực sự nắm quyền điều phối dòng tiền đi cùng các container trị giá hàng trăm tỷ USD ấy", PGS.TS Nguyễn Hữu Huân, Phó chủ tịch Cơ quan điều hành Trung tâm Tài chính quốc tế TP.HCM (VIFC-HCMC), nhấn mạnh tại buổi ra mắt Hệ sinh thái tài chính hàng hải quốc tế (IMFC/IMFE), mới đây.
Cảng Cát Lái tại TP.HCM. Ảnh: Hoàng Anh
Tìm "lời giải" dòng vốn hàng trăm tỷ USD ngay trên sân nhà
Theo ông Huân, mỗi năm hệ thống cảng khu vực TP.HCM đang luân chuyển lượng hàng hóa có tổng giá trị vượt mốc 1.000 tỷ USD. Nhưng nghịch lý lớn nhất nằm ở chỗ: Việt Nam mới chỉ nắm phần “xương sống” của logistics, còn phần giá trị gia tăng béo bở nhất lại đang chảy ra nước ngoài.
Từ tài trợ thương mại, tài trợ đóng tàu, bảo hiểm hàng hải, tái bảo hiểm, thanh toán quốc tế cho tới các nghiệp vụ quản trị rủi ro logistics… phần lớn vẫn được thực hiện thông qua những trung tâm tài chính hàng hải toàn cầu như Singapore, Hong Kong hay London.
“Việt Nam có cảng nước sâu, có luồng hàng khổng lồ, nhưng chưa sở hữu được hệ sinh thái tài chính đủ mạnh để ‘neo giữ’ dòng tiền đi cùng các con tàu”, ông Huân trăn trở.
Theo ước tính của VIFC-HCMC, mỗi năm có khoảng 6 - 8 tỷ USD lợi tức từ các dịch vụ hàng hải cao cấp âm thầm chảy ra nước ngoài. Đây mới là “miếng bánh” có biên lợi nhuận cao nhất trong chuỗi logistics toàn cầu.
Trong khi đó, doanh nghiệp Việt vẫn chủ yếu đảm nhận những khâu nặng vốn, lợi nhuận thấp như vận tải, bốc xếp, lưu kho hay khai thác cảng. Nhưng khi cần mở thư tín dụng (L/C), mua bảo hiểm thân tàu, tái bảo hiểm hàng hóa hay huy động vốn lớn để đóng tàu, họ vẫn phải tìm đến các định chế tài chính ngoại.
Nói cách khác, Việt Nam đang vận hành những dòng container tỷ USD, nhưng quyền kiểm soát dòng vốn phía sau các container ấy vẫn nằm ngoài biên giới.
Phó chủ tịch cơ quan điều hành VIFC-HCMC cho biết thêm, 'điểm nghẽn' khiến dòng chảy tài chính hàng hải vẫn phải xử lý ở nước ngoài, chủ yếu qua Singapore và Hong Kong, chủ yếu nằm ở hành lang pháp lý. Các giao dịch tài chính hàng hải thường có giá trị rất lớn, cấu trúc phức tạp và tần suất tranh chấp cao, trong khi cơ chế xử lý tranh chấp tại Việt Nam chưa đạt chuẩn quốc tế.
Đây là lý do khiến nhiều định chế tài chính toàn cầu chưa sẵn sàng đặt các giao dịch trọng yếu tại Việt Nam.
16 nhóm ngành trọng tâm của hệ sinh thái tài chính hàng hải, dự kiến tạo 6.500-11.000 việc làm đến 2035. (Nguồn: Roland Berger).
Vì vậy, VIFC-HCMC đang hướng tới xây dựng cơ chế trọng tài và tòa án quốc tế riêng, vận hành theo thông luật Anh - hệ quy chiếu phổ biến nhất của thương mại hàng hải toàn cầu. Song song đó là việc xây dựng một cơ chế dòng vốn linh hoạt hơn, đủ sức đáp ứng tốc độ và quy mô của các giao dịch xuyên biên giới.
“Nếu tháo gỡ được hai nút thắt này, chúng tôi kỳ vọng có thể kéo khoảng 30% giao dịch tài chính hàng hải của Việt Nam về thực hiện tại VIFC-HCMC, tương đương khoảng 300 tỷ USD mỗi năm”, ông Huân nhấn mạnh.
Lộ trình 5 năm: Kéo 300 tỷ USD/năm và tham vọng số hóa vượt trội
Để chặn dòng “chảy máu” tài chính hàng hải cực lớn này chảy ra nước ngoài, hệ sinh thái tài chính hàng hải quốc tế IMFC/IMFE đã chính thức được hình thành và được xác định là một trong bốn trụ cột chiến lược quan trọng nhất của VIFC-HCMC.
Theo ông Huân, trung tâm tài chính hàng hải không chỉ đóng vai trò “ăn theo” cảng biển, mà là mắt xích giúp Việt Nam tiến sâu hơn vào phân khúc giá trị cao nhất của chuỗi logistics toàn cầu. Trung tâm này sẽ cung cấp hàng loạt dịch vụ tài chính chuyên biệt như cho thuê tài chính, thanh toán xuất nhập khẩu xuyên biên giới, bảo hiểm hàng hải - hàng không, tái bảo hiểm và tài trợ tàu biển.
Ban điều hành IMFC đặt ra một mục tiêu đầy tham vọng nhưng cũng cực kỳ cụ thể: trong vòng 5 năm tới, hệ sinh thái này phải kéo được khoảng 30% tổng giá trị giao dịch tài chính hàng hải toàn cầu liên quan đến Việt Nam quay trở lại thực hiện trong nước, tương đương quy mô dòng tiền khoảng 300 tỷ USD mỗi năm.
Đây không chỉ là bài toán hút dòng vốn, mà còn là nỗ lực giành lại quyền kiểm soát phần giá trị cao nhất đang bị các trung tâm tài chính quốc tế nắm giữ suốt nhiều thập kỷ qua.
Thay vì trở thành bản sao của các trung tâm tài chính truyền thống, TP.HCM muốn đi theo mô hình trung tâm tài chính hàng hải thế hệ mới, linh hoạt hơn và vận hành trên nền tảng công nghệ.
PGS.TS Nguyễn Hữu Huân
Phó chủ tịch Cơ quan điều hành VIFC-HCMC
Theo ông Nguyễn Hữu Huân, dù mô hình vận hành của IMFC được tham chiếu sâu từ những hình mẫu thành công như Singapore hay Hong Kong, nhưng Việt Nam sẽ không đi theo con đường “sao chép” các trung tâm tài chính truyền thống.
Điểm tạo nên khác biệt nằm ở chiến lược số hóa mạnh mẽ ngay từ nền móng. Công nghệ sẽ trở thành “đường băng” giúp IMFC rút ngắn khoảng cách với các trung tâm đi trước, thông qua việc cắt giảm mạnh chi phí vận hành, tinh giản thủ tục hành chính và nâng cao tính minh bạch, vốn từ lâu được xem là “gót chân Achilles” của nhiều mô hình tài chính truyền thống.
Theo đề án, lõi trung tâm của IMFC sẽ là một sàn giao dịch tài chính hàng hải hiện đại, tập trung xử lý ba mắt xích giá trị lớn nhất của chuỗi logistics toàn cầu.
Thứ nhất là thanh toán xuất nhập khẩu và tài chính số xuyên biên giới. IMFC sẽ ứng dụng công nghệ blockchain cùng các giải pháp fintech nhằm giúp dòng tiền thanh toán quốc tế vận hành nhanh hơn, an toàn hơn và giảm đáng kể chi phí trung gian.
Thứ hai là bảo hiểm hàng hải và các giải pháp hỗ trợ logistics quốc tế. Mục tiêu là hình thành các tổ hợp bảo hiểm và tái bảo hiểm nội địa đủ năng lực bảo chứng cho các chuyến hải trình toàn cầu, qua đó giữ lại nguồn phí bảo hiểm khổng lồ vốn đang chảy ra nước ngoài.
Thứ ba là xây dựng nền tảng tài chính số chuyên biệt cho logistics và hạ tầng xanh. IMFC kỳ vọng sẽ trở thành điểm hút vốn của các quỹ đầu tư mạo hiểm, quỹ tài trợ xanh và các định chế tài chính quốc tế dành cho những dự án logistics bền vững tại Việt Nam.
Kỳ vọng hệ sinh thái tài chính hàng hải sẽ kéo 300 tỷ USD giao dịch hàng hóa về Việt Nam mỗi năm. (Nguồn: VIFC - HCMC).
Nếu vận hành đúng kỳ vọng, mô hình này không chỉ giúp TP.HCM mở rộng vai trò từ “cảng trung chuyển hàng hóa” thành trung tâm điều phối dòng vốn hàng hải của khu vực, mà còn có thể đưa Việt Nam tiến nhanh vào nhóm các trung tâm tài chính hàng hải mới nổi của châu Á - Thái Bình Dương.
Nhưng, một trung tâm tài chính hàng hải không thể hình thành chỉ bằng cơ chế hay hạ tầng. Điều quyết định sức sống của hệ sinh thái này nằm ở sự hiện diện của những doanh nghiệp “đầu tàu” đủ năng lực dẫn dắt dòng vốn, dòng hàng và các chuẩn mực vận hành quốc tế.
Ngay từ giai đoạn khởi động, IMFC đã quy tụ được sự tham gia của nhiều tập đoàn logistics, cảng biển và định chế tài chính hàng đầu trong nước lẫn quốc tế. Trong đó có những tên tuổi nội địa giàu ảnh hưởng như Gemadept, Cảng Sài Gòn hay HDBank,... bên cạnh các hãng tàu và tổ chức tài chính toàn cầu đang tìm kiếm cơ hội mở rộng hiện diện tại Việt Nam.
Ông Phạm Quốc Long, Phó tổng giám đốc Gemadept, cho biết tham vọng của hệ sinh thái tài chính hàng hải không chỉ dừng ở vai trò “hậu cần” cho logistics, mà hướng tới tái cấu trúc toàn bộ chuỗi giá trị hàng hải của Việt Nam, nơi dòng hàng, dòng vốn và các dịch vụ tài chính cao cấp được vận hành ngay trong nước thay vì tiếp tục chảy ra các trung tâm quốc tế.
Theo ông Long, hệ sinh thái này được thiết kế để phục vụ quy mô lưu chuyển khổng lồ hơn 25 triệu TEU hàng hóa trên toàn quốc. Đồng thời, thông qua cơ chế vận hành linh hoạt và thông thoáng của trung tâm tài chính, IMFC kỳ vọng có thể thu hút thêm từ 10 - 15 tỷ USD vốn đầu tư trực tiếp và gián tiếp mới mỗi năm vào ngành logistics.
“Mục tiêu cuối cùng không chỉ là tăng quy mô giao thương, mà là giữ lại tối đa phần giá trị gia tăng trong nền kinh tế nội địa”, ông Long nhấn mạnh.
Trên thực tế, tác động lớn nhất của IMFC có thể sẽ không chỉ nằm ở những con số tỷ USD, mà ở sự dịch chuyển cấu trúc kinh tế và lao động của TP.HCM. Theo nghiên cứu của Roland Berger (công ty tư vấn chiến lược hàng đầu thế giới), hệ sinh thái IMFC dự kiến phát triển 16 nhóm ngành dịch vụ trọng điểm, trải rộng trên toàn bộ chuỗi giá trị hàng hải và logistics quốc tế.
Ở nhóm vận tải và khai thác là các lĩnh vực như hãng tàu, vận tải biển quốc tế, quản lý đội tàu và đại lý hàng hải.
Nhóm công nghiệp và năng lượng sẽ tập trung vào đóng mới, sửa chữa tàu biển, sản xuất vật tư tiếp tế, cung ứng nhiên liệu hàng hải (bunkering) cũng như phát triển hạ tầng cảng xanh và năng lượng xanh.
Trong khi đó, nhóm tài chính hàng hải sẽ bao phủ các hoạt động có biên lợi nhuận cao nhất như tài trợ thương mại, tài trợ mua và đóng tàu, bảo hiểm hàng hải, tái bảo hiểm quốc tế.
Cuối cùng là nhóm dịch vụ hỗ trợ cao cấp gồm môi giới hàng hải (shipbroking), định giá tàu, giám định tổn thất, luật hàng hải và trọng tài quốc tế... những lĩnh vực vốn lâu nay gần như nằm ngoài năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt.
Sự bùng nổ của 16 nhóm ngành dịch vụ chất lượng cao này được dự báo sẽ tạo ra khoảng 6.500 - 11.000 việc làm chuyên gia thu nhập cao cho thị trường lao động Việt Nam đến năm 2035.
Quan trọng hơn, IMFC được kỳ vọng sẽ trở thành “lò luyện” cho một thế hệ chuyên gia tài chính - hàng hải toàn cầu mới của Việt Nam, những người không chỉ làm việc ở cầu cảng hay kho bãi, mà đủ năng lực tham gia điều phối dòng vốn, thiết kế cấu trúc tài chính, xử lý tranh chấp quốc tế và vận hành các chuỗi logistics xuyên biên giới trị giá hàng tỷ USD.
Theo dự báo của Roland Berger và VIFC-HCMC, đến năm 2035, việc nâng tỷ trọng giao dịch tài chính hàng hải được giữ lại trong nước có thể tạo ra cú hích kinh tế rất lớn.
Riêng hệ sinh thái IMFC được kỳ vọng sẽ đóng góp trực tiếp hơn 9 tỷ USD giá trị gia tăng mỗi năm vào GRDP của TP.HCM, con số đủ để biến tài chính hàng hải trở thành một trong những động cơ tăng trưởng chiến lược mới của đô thị kinh tế lớn nhất cả nước.
Quốc Hải
Nguồn Nhà Quản Trị : https://theleader.vn/khat-vong-keo-300-ty-usd-dong-von-hang-hai-ve-lai-viet-nam-d46063.html