Gia đình Lưu Trọng Lưu. Ảnh: Tư liệu
Triển lãm này lấy cảm hứng chính từ hai câu thơ “Đi giữa vườn nhân dạ ngẩn ngơ/ Vì thương người lắm, mới say thơ” để tái hiện không khí thi ca nhạc họa và cả tinh thần nhân văn của Lưu Trọng Lư, nhằm kết nối với giới trẻ ngày nay.
Thi sĩ của cái tôi lãng mạn
Với nhiều độc giả trẻ ngày nay, câu nhận định “Lưu Trọng Lư là nhà thơ tiên phong của phong trào Thơ Mới” đã quá đầy đủ ý nghĩa. Thế nhưng, muốn hỏi thêm rằng tiên phong ở những khía cạnh nào, thì thật khó tìm được câu trả lời rành mạch từ họ.
Nếu tập trung vào việc Lưu Trọng Lư đã hấp thụ nhuần nhụy chủ nghĩa lãng mạn (romantisme/ romanticism) du nhập từ Pháp, cộng với cá tính riêng, làm nên một chỉnh thể lãng mạn từ còn người tới tác phẩm, khó ai thời Thơ Mới có thể sánh bằng ông, thì sẽ thấy được sự tiên phong này.
Chủ nghĩa lãng mạn du nhập văn chương Việt Nam từ thời hình thành Thơ Mới và Tự Lực Văn Đoàn, giai đoạn 1932 - 1935. Sau đó phát triển mạnh mẽ, phân hóa và thăng trầm qua các giai đoạn 1936 - 1939 và 1940 - 1945. Nếu lấy Tiếng Thu (1939) của Lưu Trọng Lư để làm so sánh kiểu lịch đại, thì quả là bài thơ này ra đời trong giai đoạn phát triển mạnh mẽ của chủ nghĩa lãng mạn trong văn chương Việt Nam.
Thế nhưng, xét về đồng đại, thì Lưu Trọng Lư khác phần lớn các tác giả còn lại, khi ông đã điển hình hóa, trọn vẹn hóa tinh thần của chủ nghĩa lãng mạn: Sống và viết bất phân. Như nhận định của Hoài Thanh - Hoài Chân trong Thi nhân Việt Nam (1941): “Tôi biết có kẻ trách Lư cẩu thả, lười biếng, không biết chọn chữ, không chịu khó gọt giũa câu thơ. Nhưng Lư có làm thơ đâu, Lư chỉ để lòng mình tràn lan trên mặt giấy. Tình đã gởi trong bài thơ, Lư không còn đoái hoài đến nữa. Lư vứt chỗ này một bài, chỗ khác một bài, với cái phóng khoáng của kẻ khinh hết thảy những cái gọi rằng quý ở đời này”.
So sánh với các tiêu chí của chủ nghĩa lãng mạn, thì sự “để lòng mình tràn lan trên mặt giấy” và “cái phóng khoáng của kẻ khinh hết thảy những cái gọi rằng quý ở đời này” đều là những đặc điểm chính để nhận diện.
Trước khi chủ nghĩa lãng mạn du nhập vào Việt Nam, thì tinh thần hoặc tính lãng mạn của người Việt cũng có, nhưng rất chừng mực và e ấp, có khuynh hướng đẩy cái tôi thành cái ta, thành cái chúng ta, điều này có thể nhận thấy qua ca dao và văn chương thời trung đại.
Khi chủ nghĩa lãng mạn đã định hình, thơ văn thường khẳng định về cái tôi và sự thăng hoa của tâm lý - cảm xúc; thường mô tả chi tiết hoặc ca ngợi về nỗi buồn; thường có một quan niệm khác về thiên nhiên, sự hư ảo, thần tiên, sự siêu nhiên; thường có một cái nhìn phiêu lưu về sự dấn thân… Đọc thơ Lưu Trọng Lư trước 1945, thấy khá rõ về các khía cạnh này, rõ đến mức mà ít có nhà thơ nào khác đạt đến độ rõ như vậy.
Chỉ lãng mạn một cách đủ đầy và đặc trưng như thế, dù có không làm gì khác, thì vị trí và đóng góp của Lưu Trọng Lư trên văn đàn đã là rất to lớn.
Bởi dù chịu ảnh hưởng rõ rệt của chủ nghĩa ấn tượng và chủ nghĩa lãng mạn, nhưng trong văn chương thời tiền chiến - tạm gọi như vậy - có rất ít tác giả thể hiện rõ nét và trọn vẹn các đặc trưng như Lưu Trọng Lư đã làm với chủ nghĩa lãng mạn.
Có lẽ do bản sắc thích sự trung dung và cá tính nhị nguyên, nước đôi trong ứng xử, mà phần đông người Việt khi tiếp xúc với bất kỳ chủ nghĩa nào cũng có một khoảng cách, một ngập ngừng, hoặc một độ lùi nhất định. Xông pha, hòa nhập và dấn thân trọn vẹn vào chủ nghĩa lãng mạn như Lưu Trọng Lư, quả là một trường hợp rất hiếm.
“Vì đời Lư cũng là một bài thơ. Nếu quả như người ta vẫn nói, thi sĩ là một kẻ ngơ ngơ ngác ngác, chân bước chập chững trên đường đời, thì có lẽ Lư thi sĩ hơn ai hết” - Hoài Thanh - Hoài Chân nhận xét. Lưu Trọng Lư ít khi tuyên bố mình là người của chủ nghĩa này chủ nghĩa kia, nhưng hành trình sáng tác và sống trước 1945 đã thể hiện rất rõ điều này. Quả là: Chỉ lãng mạn thôi đủ đẹp đời.
Những bài thơ viết tay của Lưu Trọng Lưu. Ảnh: Tư liệu
Sự chỉn chu phía sau vẻ lãng đãng
Nhưng có một Lưu Trọng Lư khác, mà đến đầu thế kỷ 21 vẫn còn ít được chú ý, hoặc chưa được đặt để đúng vị trí trong sự nghiệp riêng và cả lịch sử văn đàn, đó là văn xuôi. Gồm cả truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch, tản văn, phê bình, lý luận, nghị luận... Theo nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân, trong một thống kê chưa đầy đủ, công bố năm 2011, thì “số truyện ngắn, truyện dài Lưu Trọng Lư đã viết và đã in ra trong toàn bộ đời văn của mình nhiều gấp vài ba lần số tập thơ hay số vở kịch ông đã viết, đã dàn dựng”.
Với văn xuôi trước 1945, Lưu Trọng Lư gọi chung là tiểu thuyết, theo nghĩa là các luận thuyết gọn gàng, các đàm luận ngắn, để đối lập lại với các đại thuyết, hoặc kinh sách. Vì vậy mà, với nhiều truyện ngắn ông cũng gọi là tiểu thuyết hoặc là đoản tiểu thuyết.
Dù cũng theo đuổi khá trọn vẹn chủ nghĩa lãng mạn, nhưng khác với cảm giác “ngơ ngơ ngác ngác” trong thơ, văn xuôi của Lưu Trọng Lư đẩy mạnh vào cấu trúc và tâm lý, với những dụng công kỹ thuật tinh tường. Nếu Nhất Linh, Thạch Lam, Khái Hưng… được xem là những bậc thầy dụng công về kỹ thuật dùng tiếng Việt chính xác, tinh tế, thì trong văn xuôi, Lưu Trọng Lư cũng tinh tế, sâu sắc không kém, đặc biệt là sự súc tích. Viết ngắn gọn mà không khô khan, không luận đề, vẫn đủ vùng trời để khi cần thì các sắc thái của chủ nghĩa lãng mạn thăng hoa, tung tẩy, quả là rất khó.
Chính điều này đã làm cho độc giả cảm nhận có hai Lưu Trọng Lư khác nhau, một lãng đãng trong thơ, một chỉn chu trong văn xuôi. Và trong làn sóng mạnh mẽ của Thơ Mới trước 1945, khi hơn 95% dân số còn mù chữ, thì giữa việc chọn thuộc thơ và đọc văn xuôi của một tác giả, thơ thường dễ thu hút hơn. Tất nhiên, chúng ta không quên một yếu tố là thơ Lưu Trọng Lư quá điển hình cho chủ nghĩa lãng mạn thời đó, được yêu mến hơn, được thần tượng nhiều hơn là điều dễ hiểu.
Nếu xét các đặc trưng chính của chủ nghĩa lãng mạn như ca ngợi trực giác, đề cao trí tưởng tượng, tô đậm cảm hứng cá nhân, tôn kính thiên nhiên, trải nghiệm cái siêu phàm, hoài niệm về sự thoát ly… thì văn xuôi Lưu Trọng Lư gần như có đầy đủ. Ông viết từ bút pháp huyền ảo cho đến lãng mạn, hiện thực, hiện thực phê phán và cả phái sinh.
Ông kết nối dòng chảy tâm thức từ những biểu tượng cổ đại và cổ điển cho đến các hình tượng du nhập từ Tây phương, cũng như các câu chuyện thời thường ở Hà Nội. Đọc ông, có thể thấy một tự tình dân tộc được thách thức, được gạn lọc qua nhiều va chạm với các làn sóng tư tưởng Đông - Tây, để từ đó tìm kiếm bản sắc, nhiều khi khá mong manh, nhưng cũng khó mất đi.
Và đặc biệt nhất, văn xuôi Lưu Trọng Lư còn tỏ rõ các lý luận, sự phản tư, tính phê phán, tính trào phúng về chính thể loại văn xuôi. Nó khá đương đại. Mà nói như ngôn ngữ ngày nay, là đầy tính liên văn bản và liên thể loại, khiến cho việc đọc sẽ thú vị với những ai có văn kiến về điều này, nhưng lại có chút khó khăn cho những ai muốn đọc các văn bản dạng thuần túy kể chuyện.
Ông cũng kết hợp hàm lượng tư tưởng nhân văn và tính triết lý vào bề mặt ngôn ngữ lãng mạn, với cách hành văn trong sáng và hiện đại. Tất cả điều này làm nên sự tiên phong trong thi pháp văn xuôi của Lưu Trọng Lư.
LÝ ĐỢI