Biển Kỳ Xuân mang vẻ đẹp hoang sơ, nơi biển xanh hòa cùng nhịp sống bình dị của ngư dân miền Trung. (Ảnh: Hữu Quyết - TTXVN)
Tại buổi làm việc với Ban Chính sách, chiến lược Trung ương và các cơ quan liên quan về Đề án tổng kết Nghị quyết số 36-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhấn mạnh yêu cầu cấp thiết phải đổi mới, chuyển mạnh từ “tư duy kinh tế biển” sang “tư duy không gian phát triển biển quốc gia mạnh.”
Trao đổi với phóng viên xoay quanh nội dung trên, Phó Giáo sư - Tiến sỹ Nguyễn Chu Hồi - nguyên Phó Tổng Cục trưởng Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam, Đại biểu Quốc hội khóa XV, Phó Chủ tịch thường trực-phụ trách Hội Thủy sản Việt Nam, cho rằng đây là yêu cầu xuất phát từ một tầm nhìn xa, sâu rộng, một cách tiếp cận toàn diện của người đứng đầu Đảng và Nhà nước ta về chiến lược phát triển biển đảo trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Tầm nhìn xa và cách tiếp cận toàn diện
- Thưa Phó Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Chu Hồi, tại buổi làm việc với Ban Chính sách, chiến lược Trung ương và các cơ quan liên quan, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh yêu cầu phải khẩn trương tổng kết Nghị quyết 36-NQ/TW và xây dựng Nghị quyết mới không chỉ kế thừa và phát huy những kết quả đã đạt được, mà còn phải tạo ra bước chuyển mạnh mẽ về tư duy, thể chế và mô hình phát triển biển với tầm nhìn mới. Ông đánh giá thế nào về chỉ đạo này?
Phó Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Chu Hồi: Đây là những yêu cầu xuất phát từ một tư duy mới, một tầm nhìn xa, sâu rộng, một cách tiếp cận toàn diện của người đứng đầu Đảng và Nhà nước ta về chiến lược phát triển biển đảo trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Đây là những yêu cầu xuất phát từ một tư duy mới, một tầm nhìn xa, sâu rộng, một cách tiếp cận toàn diện về chiến lược phát triển biển đảo trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Với lợi thế vượt trội về biển, đảo cả về quy mô, vị thế và giá trị, từ xa xưa người Việt Nam ta đã biết khai thác, sử dụng biển, đảo trong suốt quá trình xây dựng và bảo vệ đất nước. Tuy vậy, bên cạnh những đóng góp đáng ghi nhận, công cuộc khai thác biển vẫn còn bộc lộ thiếu bền vững, hiệu quả kinh tế thu được chưa đồng đều.
Vì vậy, việc Trung ương Đảng khóa XII ban hành và thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 là một quyết sách rất đúng đắn, có tầm chiến lược như khẳng định của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm.
Nhìn lại quá trình 8 năm thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW cho thấy nhận thức về vị trí, vai trò của biển và phát triển bền vững kinh tế biển đã được nâng lên; hệ thống thể chế, chính sách về biển từng bước được hoàn thiện; nhiều ngành kinh tế biển phát triển khá; đầu tư hạ tầng ven biển được tăng cường; đời sống người dân vùng biển được cải thiện; quốc phòng, an ninh và bảo vệ chủ quyền biển đảo đạt được nhiều kết quả quan trọng, góp phần khẳng định vị thế của đất nước.
Tuy nhiên, đánh giá thẳng thắn thì kinh tế biển nước ta vẫn chưa phát triển tương xứng với tiềm năng, lợi thế và yêu cầu phát triển của đất nước, nhất là theo tinh thần Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.
Phó Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Chu Hồi, Phó Chủ tịch Thường trực Hội Thủy sản Việt Nam nhấn mạnh vai trò của giáo dục trong bảo tồn biển, góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ hệ sinh thái biển bền vững. (Ảnh: Phan Phương/TTXVN)
- Vậy theo ông, đâu là những “điểm nghẽn” lớn nhất đang cản trở sự bứt phá của kinh tế biển Việt Nam hiện nay?
Phó Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Chu Hồi: Tôi cho rằng những điểm nghẽn trong quá trình thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW cần tháo gỡ như: Thể chế quản lý biển đảo còn bị chia cắt, phân mảnh, chồng chéo; cơ chế phối hợp liên ngành và cách tiếp cận quản trị biển theo không gian chậm được hình thành; nguồn nhân lực biển còn phân tán, thiếu tính chuyên nghiệp, chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới, nhất là cho phát triển “kinh tế biển sâu, biển xa.”
Bên cạnh đó, hàm lượng khoa học-công nghệ trong các sản phẩm từ biển còn thấp; xung đột lợi ích và không gian phát triển giữa các chủ thể khai thác, sử dụng cùng một vùng biển tiếp tục gia tăng trong bối cảnh Biển Đông luôn chịu tác động xấu từ thiên tai, nhân tai, từ biến đổi khí hậu và biến đổi đại dương.
Từ những điểm nghẽn đó, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã yêu cầu phải khẩn trương tổng kết Nghị quyết số 36-NQ/TW và xây dựng một nghị quyết mới để mở ra một thời kỳ phát triển mới của đất nước. Với nghị quyết mới này, bên cạnh việc kế thừa và phát huy những kết quả thực tiễn đã đạt được, cần phải tạo ra bước chuyển biến mạnh mẽ về tư duy, thể chế và mô hình phát triển biển với tầm nhìn mới.
Phấn đấu trở thành quốc gia biển mạnh
- Với kinh nghiệm nhiều năm công tác và nghiên cứu sâu về biển, đặc biệt là phát triển kinh tế biển, ông đánh giá thế nào về chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khi chỉ rõ cần đổi mới tư duy và tầm nhìn phát triển biển trong giai đoạn mới; trong đó trọng tâm là phải chuyển mạnh từ “tư duy kinh tế biển” sang “tư duy không gian phát triển biển quốc gia mạnh”?
Phó Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Chu Hồi: Về bản chất, môi trường biển luôn động và mang tính xuyên biên giới, còn tài nguyên biển được phân bố theo không gian (trên bề mặt biển, trong khối nước biển, trên bề mặt đáy biển và trong lòng đất dưới đáy biển). Nhiều dạng chất thải biển và sinh vật biển (bao gồm các loài thủy sản) luôn di cư, di chuyển, được lan truyền trong không gian biển có chế độ động học và pháp lý khác nhau, nhưng tương tác cho nhau.
Nuôi trồng và chế biến thủy sản giữ vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế biển của tỉnh Thanh Hóa. (Ảnh: Lê Đông/TTXVN)
Vì thế, các hệ thống tài nguyên biển đều là hệ đa dụng là đối tượng khai thác, sử dụng của nhiều ngành. Song, trong thực tế lại thường được quản lý theo ngành, nên thường xảy ra xung đột lợi ích trong khai thác, sử dụng không gian cùng một vùng biển. Đây là hậu quả của tư duy phát triển kinh tế biển “truyền thống” vốn thường: Dựa vào nỗ lực khai thác suy kiệt nguồn vốn tự nhiên biển; ưu tiên lợi ích ngành mình, ít hay không quan tâm lợi ích ngành; xuất khẩu sản phẩm thô chứa đựng hàm lượng công nghệ thấp, ít chế biến sâu để tạo giá trị gia tăng; bỏ qua các giá trị dịch vụ của các hệ thống không gian biển, trong đó có các hệ sinh thái biển giàu có.
Ngược lại, tư duy không gian biển, đơn giản là cách tiếp cận quản lý biển theo không gian dựa vào hệ sinh thái; sử dụng các công cụ thích hợp (quy hoạch không gian biển và phân vùng chức năng biển) để xử lý các xung đột lợi ích ngay từ giai đoạn sớm của quá trình phát triển kinh tế biển; tối ưu hóa lợi ích của các bên liên quan theo lộ trình, bao gồm bảo đảm lợi ích giữa phát triển kinh tế với bảo đảm an ninh, quốc phòng, cũng như tính bền vững của các hệ thống không gian biển. Trên cơ sở đó, tổ chức lại không gian kinh tế biển sẽ đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế biển nhanh và bền vững dựa vào khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Chương trình làm sạch môi trường biển lan tỏa ý thức bảo vệ hệ sinh thái bền vững. (Ảnh: TTXVN phát)
- Nhấn mạnh việc cấp thiết phải đổi mới tư duy, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu phải xây dựng mô hình quản trị biển quốc gia hiện đại, thống nhất, liên thông dựa trên dữ liệu và quy hoạch không gian biển quốc gia. Vậy theo ông, hệ thống luật pháp và cơ chế giám sát hiện nay cần được hoàn thiện, đổi mới thế nào để vừa tạo không gian thông thoáng cho đầu tư kinh tế biển, vừa bảo đảm vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia trên biển?
Phó Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Chu Hồi: Mô hình quản trị biển quốc gia hiện đại, thống nhất, liên thông đòi hỏi phải thống nhất quản lý nhà nước về biển theo phương thức quản lý tổng hợp, tích hợp, dựa trên cơ chế phối hợp liên ngành, liên cơ quan, liên vùng, liên vấn đề.
Các công cụ như quy hoạch không gian biển và phân vùng chức năng biển, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, AI và công nghệ đại dương tiên tiến phải được áp dụng trong quản trị, quản lý và phát triển kinh tế biển hiệu quả và bền vững. Ở đó, người dân ven biển, trên các đảo và hoạt động sản xuất trên biển, cùng các doanh nghiệp phải là các thành tố trong hệ thống quản trị biển mới. Qua đó xây dựng các mô hình cụ thể để kết hợp phát triển bền vững kinh tế biển với bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa.
Mô hình quản trị biển quốc gia hiện đại, thống nhất, liên thông đòi hỏi phải thống nhất quản lý nhà nước về biển theo phương thức quản lý tổng hợp, tích hợp, dựa trên cơ chế phối hợp liên ngành, liên cơ quan, liên vùng, liên vấn đề.
Để hiện thực hóa mô hình quản trị trên, trước hết và tiên quyết phải ưu tiên tháo gỡ điểm nghẽn về thể chế, cơ chế chính sách.
Theo đó, chúng ta cần rà soát chồng chéo, vướng mắc và sửa đổi để hình thành Bộ Luật cơ bản về biển của Việt Nam (không bao gồm luật ngành liên quan đến biển), có thể bao gồm: Luật biển Việt Nam, Luật Sử dụng biển và hải đảo, Luật Bảo vệ môi trường biển và hải đảo, Luật Bảo tồn biển, Luật Khoa học và công nghệ biển. Bộ luật này làm cơ sở để Chính phủ tiến hành điều chỉnh các luật ngành, xây dựng các công cụ pháp lý (nghị định, thông tư,…) và kỹ thuật (hướng dẫn quy hoạch không gian biển, phân vùng chức năng biển,…) để triển khai linh hoạt, kịp thời các mối quan hệ trên biển và giữa các chủ thể trong quá trình khai thác, sử dụng biển để phát triển kinh tế, bảo đảm vững chắc an ninh, chủ quyền biển đảo của Tổ quốc từ sớm, từ xa.
Song song với đó, chúng ta cũng cần xem xét, kiện toàn mô hình thể chế quản lý nhà nước tổng hợp và thống nhất về biển đảo; mô hình phối hợp đa ngành trong quản lý và tuần tra biển; chính sách thu hút đầu tư và tạo cơ hội cho doanh nghiệp (ưu tiên tự chủ chiến lược) tham gia khai thác biển; ưu tiên phát triển một số ngành kinh tế biển mới (như năng lượng biển tái tạo, bao gồm năng lượng gió biển, năng lượng mặt trời trên biển, nhiên liệu sinh học biển); kinh tế bảo tồn và nghề cá giải trí; dược liệu biển...
Phát triển kinh tế biển. (Ảnh minh họa. Nguồn: TTXVN)
- Để biển thực sự trở thành không gian phát triển chiến lược của quốc gia, tạo động lực cho tăng trưởng nhanh và bền vững, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh Nghị quyết mới phải làm rõ hình hài của một “quốc gia biển mạnh trong thế kỷ XXI.” Theo ông, chúng ta cần làm gì để sớm đạt được mục tiêu này?
Phó Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Chu Hồi: Việt Nam phấn đấu trở thành một “Quốc gia biển mạnh trong Thế kỷ XXI” là mục tiêu bao trùm và chiến lược trong các nghị quyết phát triển biển gần đây. Nói đơn giản, đó là quốc gia có: Nền khoa học, công nghệ biển tiên tiến, hiện đại và nguồn nhân lực biển chất lượng cao, có khả năng hội nhập quốc tế về biển và đại dương; hệ thống quản trị, quản lý biển tổng hợp và thống nhất; kinh tế biển phát triển nhanh, xanh và bền vững; quốc phòng, an ninh biển đủ khả năng bảo vệ vững chắc chủ quyền, các quyền và lợi ích biển khác của Việt Nam.
Như vậy, để đạt được mục tiêu nói trên, cùng với hoàn thiện thể chế, chính sách thì việc tăng cường ứng dụng khoa học, công nghệ biển và chuyển đổi số, AI trong phát triển và quản trị không gian biển sẽ giúp Việt Nam đột phá, nhanh chóng thoát khỏi “tụt hậu” trong tất cả các lĩnh vực phát triển và quản trị biển. Kinh nghiệm cũng cho thấy biển mang lại hiệu quả kinh tế lớn, lâu dài, nhưng cũng đòi hỏi mức đầu tư lớn; các ngành kinh tế biển, nhất là “kinh tế biển sâu, biển xa” phải đi theo lộ trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa; quốc phòng, an ninh biển phải hiện đại, đủ sức kiểm soát được vùng trời, không gian mặt biển và không gian ngầm dưới đáy biển.
Tuy nhiên, tất cả điều trên chỉ có thể đạt được nếu chúng ta phát triển mạnh và ứng dụng thành công các thành tựu khoa học-công nghệ biển tiên tiến, trong đó có các công nghệ nổi, di động, tự động hóa cao./.
- Trân trọng cảm ơn ông!
Cầu Cửa Nhượng bắc qua cửa biển và bãi biển Thiên Cầm có hình cánh cung tạo nên cảnh đẹp ấn tượng. (Ảnh: Hữu Quyết/TTXVN)
(Vietnam+)