Đó là đầu mùa hè năm tôi chuẩn bị lên lớp sáu, chị tôi cho theo "tập sự" công việc chăn bò. Có chị Sáu kèm đôi ba buổi, rồi chắc thấy cô em miệng mồm như tép nhảy có “năng khiếu” chăn bò nên đến giữa hè là chị giao đứt bầy bò cho tôi luôn.
Ôi trời, trở thành mục đồng “chính chủ” rồi, tôi vui phải biết!
Minh họa: Văn Tĩnh.
Nói thật đấy. Tại ở nhà, tôi nghe mấy anh chị trong xóm kể toàn những chuyện thú vị khi đi chăn bò. Họ khoái chí nhắc đi nhắc lại câu “Nhất quỷ, nhì ma, thứ ba… chăn bò”. Nói to vang hùng hồn lắm, như thể muốn cả thế giới phải biết, phải công nhận lẽ hiển nhiên đó.
Chị Sáu bảo thú nhất là đem bò qua bên kia sông. Con sông quê nho nhỏ xinh xinh, trước khi đổ về biển đã ban tặng cho làng quê một bãi cát tuyệt đẹp. Bãi rộng, thuần cát nên rất sạch.
Bãi cát là nơi vui chơi lý tưởng của lũ trẻ. Những buổi chiều yên ả, chúng tôi ùa ra cát, bày ra bao trò. Chơi mệt thì nằm ngửa nhìn trời xanh, đoán hình những đám mây, dõi theo cánh cò… Chơi vui đến nỗi có hôm đàn bò đã qua khỏi sông, cô chủ là tôi vẫn còn thích thú nằm bơi trên cát.
Nhưng tôi không phải hấp tấp chạy theo vì sợ không có chủ, bò sẽ không biết đường về. Riêng khoản này tôi rất an tâm về những người bạn của mình, chúng nhớ rất chính xác đường về, đến nỗi, tôi tin nếu không về nhà thì chỉ có lý do chúng không muốn về. Cũng như lần Cộ Lửa ham vui, chắc đã theo những người bạn mới qua bên kia đồi đến lúc mặt trời lặn, tôi lùa đàn bò về chuồng mà không có nó.
Tôi khóc, mẹ than thở. Nhưng chị tôi, bằng trải nghiệm chăn bò nhiều năm đã tự tin nói: "Nếu bị trộm thì mất nhưng nếu đi lạc, nó khắc tự tìm về". Ôi, nó tìm về thật. Sáng bảnh mắt, tôi chạy ra chuồng. Con Cộ Lửa về, nằm ngay cổng chuồng. Tôi sà lại, ôm, vuốt ve bộ lông đỏ của nó mà thì thầm: “Mày đã không bỏ tao!”.
Mà đâu chỉ vậy. Hình như nó còn biết chủ mình bị lạc nữa. Đó là một chiều, tôi ham lùng những trái sim chín mà đi lạc. Kêu hoài: Nhi ơi, Nhiệm ơi, anh Tèo ơi… nhưng không có tiếng đáp lại. Tôi kêu đến khản giọng. Rồi sợ quá, đứng khóc giữa trảng sim. Cũng tại trong đầu bị ám ảnh câu chuyện mẹ kể đứa nhỏ theo mẹ vô rừng, đi lạc rồi chết trong núi thẳm, sau này bị biến thành con chim, cất tiếng kêu thảm thương: “Đi đường nào đâu hé”.
Trời ơi, lạc rừng đã sợ, giờ nghe con chim nó kêu tha thiết thì run rẩy. Vừa lúc đó, tôi nhận ra tiếng con Cộ Lửa đang rống. Cái giọng to vang, hơi khàn khó lẫn đó ngân lên thành tràng dài. Tôi bình tĩnh lại thì biết mình đi lạc không quá xa. Cộ Lửa cứ rống, tôi đoán hướng nó đang đứng rồi tìm đường chui ra. Hôm sau, anh Tèo kể, chiều đó anh rượt bò về nhưng không thấy tôi với Cộ Lửa nên nghĩ cô chủ đã dắt Cộ Lửa trốn chỗ nào ăn mánh lẻ rồi. Nào anh có biết Cộ Lửa vì không thấy tôi mà chẳng chịu về.
Cho tới bây giờ, khi đã rời xa tuổi thơ mục đồng tận ba mươi năm thì tôi vẫn tự tin khoe với mọi người rằng mình am hiểu những con bò như thể chuyên gia về chúng. Với tôi, bò là bạn. Tổng cộng mười bốn năm kết nối, ngày nào chúng tôi chẳng có nhau. Và tôi dám khẳng định rằng, bò cũng có tâm hồn và tiếng nói của riêng nó.
***
Kể từ lúc nhận chức tổng quản đàn bò sáu con, tôi bèn dựa vào đặc tính riêng mà đặt tên cho từng đứa. Tôi gọi Ròm, Hường, Lang, Bét, Mởn. Nhưng nhớ nhất vẫn là thằng Cộ Lửa, dù tình thương tôi dành cho những con bò ngang nhau. Đó là tôi đang giải thích chuyện mỗi khi đi chăn, tôi luôn đảo mắt tìm đám cỏ mướt nhất có thể để thả bò.
Tôi còn bứt những cọng cỏ tươi tốt mọc lắt léo trong gai đưa tận miệng con Ròm chứ không phải Cộ Lửa. Không phải thương mới cho ăn mà vì con Ròm ốm tong teo nhất chuồng nên chăm kỹ hơn. Tôi đổ lỗi cho chị Sáu, người tiền nhiệm. Tới tôi thì đừng hòng có con nào ốm được. Mình chăm sóc đàng hoàng, cho ăn no, tắm rửa sạch sẽ, bắt ve bắt rận thì bò sao ốm được.
Kết quả, những người bạn bò của tôi hiểu hết. Chúng đáp lại tấm lòng cô chủ bằng cách ăn uống trật tự, cuối buổi tôi làm bộ điệu đỏng đảnh cầm roi đi trước, cả bầy sẽ lướt thướt theo sau. Tin không, mỗi chiều ra bãi cát, con Cộ Lửa thường lấy sừng hích nhẹ vào mông, nhấc tôi lên lưng để chú chàng chở giúp ra bến.
Ra tới sông, chúng nghểnh cổ về phía tôi. Hiểu rồi, ngày nào cũng nhắc chủ tắm táp hết. Và tôi, sẵn lòng một cách vui vẻ làm điều đó. À quên, những trưa tròn bóng, nắng chang chang, Cộ Lửa lội qua sông xong sẽ đi thủng thẳng để tôi kịp phóng lên lưng quá giang qua khỏi bãi cát nóng rộp chân.
Cộ Lửa là niềm tự hào của tôi. Suốt quãng đời mục đồng dài dằng dặc thì Cộ Lửa là con bò đẹp nhất đàn. Chàng ta có màu lông đỏ rực, cái mông là hai tảng thịt và chiếc ụ cao ngất, uy nghi. Cộ Lửa có tướng đàn anh nhưng tính tình điềm đạm. Nó hiền lành, hiếm khi đánh nhau với đồng loại. Nếu có cũng là bất đắc dĩ. Như cái lần con Quặm Đen của thằng Bình tranh mớ cỏ non mà nó đã tìm được và háy mắt kêu con Ròm lại chia phần.
Con Quặm Đen to mập, núc ních dềnh dàng tiến lại. Nó ỷ sức, lấy cái sừng to hất con Ròm qua một bên. Cộ Lửa nổi giận đùng đùng vì sự ỷ mạnh hiếp yếu đang diễn ra trước mắt. Mặc kệ cái mặt hầm hầm và cặp sừng nhọn hoắc cong cong, Cộ Lửa kê cặp sừng vào đùi nó mà hích và dùng sức đẩy tới. Quặm Đen mất thế, bị trượt dài. Bẽ mặt chưa? Tôi đứng bên bờ cỏ, khoái chí nhìn Quặm Đen bỏ đi.
Cộ Lửa là trụ cột của chuồng. Bảo vệ những con yếu hơn và đảm đương những công việc như cày, bừa và kéo cộ cho ông chủ (ba tôi). Những cộ rơm, lúa, mì, khoai, củi… cao ngất là do Cộ Lửa giúp ba tôi chuyên chở chứ làm gì có máy có xe như bây giờ. Vào mùa, Cộ Lửa nai lưng làm quần quật sáng chiều chứ dễ gì được ra đồng nhởn nhơ gặm cỏ như những con kia.
Những ngày vào vụ đó, ba tôi ra chuồng sớm, Cộ Lửa biết ngay ông chủ cần mình nên tự động dừng nhai, bước ra cổng và khoan thai đi thẳng về chỗ chiếc cộ đang chờ sẵn. Con Ròm nhìn nó bằng ánh mắt, ước gì em mau phát tướng để đỡ đần bớt cho anh. Lúc từ đồng về, mẹ tôi sẽ bồi dưỡng cho Cộ Lửa món cháo trắng nấu cùng mấy món rau và uống nước trộn cám.
Tuy nhiên có những ngày nó làm nặng nhưng mẹ tôi cũng lậm lụi ngoài đồng về muộn nên không có cháo. Cộ Lửa nhóp nhép nhai đỡ mấy sợi rơm khô rồi ngủ. Mẹ ngồi ăn cơm mà áy náy, lát lại nói để mai bù.
Nhưng sự đời, ai mà lường trước được bi kịch. Có một lần, mẹ chưa kịp “bù lại” cho Cộ Lửa thì ba tôi (chắc không biết chiều qua bò không có cháo, cám) đã ra mở cửa chuồng, Cộ Lửa lại ngoan ngoãn đi ra chỗ chiếc cộ. Ông chủ và Cộ Lửa có mặt trên đồng lúc trời vừa hửng nắng.
Trong lúc đợi ông chủ nhổ mì, Cộ Lửa rảo quanh để kiếm chút gì bỏ bụng. Nhưng ác thay, mì đến mùa nhổ thì cỏ cũng già và cháy khô. Ăn đỡ cỏ khô rất rát họng. Không có thứ chi để ăn mà bản tính của chàng thì biết rồi, làm giỏi nên ăn cũng phải nhiều. Trong lúc đói, thấy mấy cây mì xanh mơn mởn người ta chất chồng mà chảy nước dãi.
Rồi thêm mấy củ mì vì quá nhỏ nên còn lủng lẳng dưới gốc. Cộ Lửa vẫn biết đây là mì cao sản. Trước giờ, mỗi lần nó há mồm chực quơ một đọt mì là chủ vung roi đánh tới và răn: "Mì cao sản, ăn sống sẽ say, tệ hơn ngộ độc mà chết đấy!".
Cộ Lửa vẫn nhớ như in lời cảnh báo đó nhưng giờ không thể thực hiện được. Bụng bảo dạ không nghe. Chắc vì đói quá. Nó lén núp sau lùm cây mà nhai đám đọt mì non. Tính ăn ít, ai ngờ quá đói mà mùi đọt mì xông lên mũi, dễ chịu, nhai vào ngòn ngọt. Cộ Lửa ăn một vài miếng rón rén nhưng sau đó đã quên mất lời tự hứa. Trong tích tắc, anh chàng đã thủ tiêu xong đống cây mì và những củ rẻo rồi lại chỗ cũ đứng chờ.
Ông chủ đã nhổ mì xong nên chất lên cộ. Bò và cộ mì đầy ắp di chuyển. Những bước đầu, Cộ Lửa bước chắc chân. Nhưng chỉ chục bước thì những bước sau bắt đầu chậm chạp. Ông chủ “hầy, hầy”, chủ quan nghĩ Cộ Lửa đang thủng thẳng nên hối đi nhanh. Nó ráng một cách nặng nề, vừa hết đoạn đường, mới đến đầu xóm, bọt ở mép nó bắt đầu rịn ra... Nó vẫn ráng bước nhưng cũng chỉ nửa bước. Chân trước của nó khuỵu xuống. Cộ mì nhào tới. Ông chủ vừa nhảy xuống cộ thì thân hình đỏ rực, tưởng không bao giờ gục ngã ấy, đã đổ sầm xuống đất.
Hôm đó, tôi đi học về thì nghe tin Cộ Lửa đang nằm trước đám đất thổ, tuôn nước dãi, mắt đơ đơ. Tôi không kịp bỏ cặp, ba chân bốn cẳng chạy tới, ôm ào vào cổ nó, khóc thút thít…
***
Bây giờ, cứ đến hè, tôi lại nao nao rơm rớm vì vẫn còn đó cảm giác run run khi đưa bàn tay nhỏ bé bịn rịn vuốt lớp lông đỏ rực của Cộ Lửa. Cũng chưa bao giờ tôi quên được chiếc lưng bè bè đã chở mình qua bãi cát nóng và tiếng nhai rơm quen thuộc trong chuồng cũ, thứ âm thanh đã biến mất từ rất lâu rồi...
Truyện ngắn của Nguyễn Thị Bích Nhàn