Nguyễn Minh Khiêm, lạ thay cái đất làng mình?

Nguyễn Minh Khiêm, lạ thay cái đất làng mình?
4 giờ trướcBài gốc
Nhà thơ Nguyễn Minh Khiêm (bên phải) cùng tác giả bài viết.
Đọc thơ Nguyễn Minh Khiêm, nhận ra ông là con người mê đắm với quê hương xứ Thanh. Gần như xứ Thanh là mạch nguồn chủ đạo, làm nên cảm hứng thi ca, tạc nên “vóc” nhà thơ Nguyễn Minh Khiêm.
Lần giở từng bài thơ của Nguyễn Minh Khiêm, tôi nhớ nhà thơ Nga, R.Gamzatop (1923-2003), khi ông nói về làng: “Trên mỗi bước đi, tôi gặp lại mình, gặp lại thời thơ ấu, gặp lại những mùa xuân, những cơn mưa, những bông qua và cả những chiếc lá rụng mùa thu của tôi”. Tôi nhớ Đỗ Trung Quân với câu thơ: “Quê hương mỗi người chỉ một/ Như là chỉ một mẹ thôi” (Bài học đầu cho con).
Nguyễn Minh Khiêm lớn lên từ làng, ra đi từ làng, trở về với làng. Vì thế làng trong thơ ông là tất cả ký ức, khắc khoải. “Hạt muối tan ra nhân nghĩa thấm vào/ Buộc nốt lạt vững bao nhiêu dòng họ/ Gặp cây đa cây đề trong rễ cây rễ cỏ/ Trầu đỏ môi người têm những tiếng huầy dô” (Làng).
Trong tâm hồn Nguyễn Minh Khiêm có từng vụn đất, cánh bèo, tiếng giun, tiếng dế, cỏ, hoa...; có bạn bè thuở thiếu thời, cha mẹ; có dòng sông Chu, sông Mã, có tiếng trống đồng Đông Sơn... Tất cả tạo ra một dòng chảy từ quá khứ đến hiện tại và tương lai. Ông “mắc nợ” từng vụn đất, từng bông lúa, cụm rau má trên con đường làng... và viết để trả ơn quê hương bọc đùm, cưu mang.
Không ngạc nhiên trong thơ Nguyễn Minh Khiêm có cả thời gian và không gian nghệ thuật, ở đó âm thanh, màu sắc, mùi vị xứ Thanh hiện lên rất rõ.
“Tôi là vụn đất mang tinh chất hồn làng/ Cho những rễ cây muốn tìm về nguồn cội/ Cho những giấc mơ vỗ cánh sau những ngày dữ dội/ Cho những hạt mầm lạc nhịp mùa sinh” (Vụn đất hồn tôi).
“Lạ thay cái đất làng mình/ Bỏ quên sợi tóc cũng thành ca dao/..../ Lạ thay cái đất làng mình/ Kẽo cà kẽo kẹt mà thành nghìn năm”. “Chí làng nhọn hoắt mũi tên/ Sức làng lay chuyển sấm rền bão lay/ Xé trời thành chỉ lòng tay/ Thành sâu nguồn cội, thành dày nghĩa nhân” (Đất làng mình).
Nguyễn Minh Khiêm tự hào về làng. Thơ về làng của ông không chỉ là diễn tả, kể lể. Làng trong thơ Nguyễn Minh Khiêm trở thành biểu tượng, có giá trị tư tưởng.
Trong giấc mơ, Nguyễn Minh Khiêm luôn thấy bóng làng, bóng mẹ. Ông đã sống trong làng, lớn lên nhờ làng. Trong cuộc đời mưu sinh, dẫu có những lúc xa quê, trong đêm, ông giật mình từ tiếng thạch sùng, vốn không thể thiếu trong hoài niệm.
“Gối đầu lên những năm tháng xa quê/ Không chợp mắt lòng cồn cào rất lạ/ Bóng mẹ chập chờn từ phía rơm phía rạ/ Tiếng thạch sùng thảng thốt ký ức mưa” (Tiếng thạch sùng).
Không có nhà thơ nào không sáng tác về mẹ, về quê hương. Nguyễn Minh Khiêm cũng vậy, không ai bứng ông ra được khỏi ký ức cố thổ. Có điều, mảng thơ về quê hương của Nguyễn Minh Khiêm khá thành công. Ông là người góp phần tạo nên bản sắc xứ Thanh trong những nhà thơ Việt Nam hiện đại, gốc xứ Thanh.
Viết về đề tài lịch sử (chủ yếu là truyền thống lịch sử Thanh Hóa), Nguyễn Minh Khiêm có 7 trường ca, 60 bài thơ; viết về làng có 70 bài, viết về mẹ của mình hơn 50 bài, viết về người mẹ và người phụ nữ nói chung hơn 100 bài. Những trường ca như: “Hát nơi cửa sóng”, NXB Quân đội Nhân dân năm 2018; “Lê Lợi mài gươm”, NXB Hội Nhà văn năm 2020; “Lốc biển”, NXB Hội Nhà văn năm 2021; “Mạch đất trống đồng”, NXB Thanh Hóa năm 2022... đều viết về xứ Thanh.
Năm 2024, Nguyễn Minh Khiêm in “Tuyển tập thơ” cho giai đoạn 1980-2022, dày tới 1.500 trang, bao gồm 1.100 bài thơ. Cùng năm đó, ông in tập thơ “Trả nợ ngọn đèn”.
“Không ai nuôi mồ hôi tạc tượng/ Nuôi hồn làng bằng bông cải bông kê/ Xương máu nghìn đời không có người đóng thế/ Hóa phù sa màu mỡ để thành quê” (Một bận lạc đường ta lại gọi làng ơi). Cụm từ “lạc đường” ở đây hoàn toàn là nghĩa bóng. Làng cũng có nghĩa là nguồn cội.
Nguyễn Minh Khiêm là người sống nội tâm, luôn ưu tư, suy tư. Làng với ông ngân lên trong thanh âm của tiếng sáo diều, làng là những chiếc tổ chim thời ấu thơ, trên những cánh bèo quê thách thức mưa nắng, đạn bom, “Bom đạn hất lên bờ vẫn lung linh hoa nở/ Rễ bám bùn một cọng vẫn sinh sôi” (Bèo quê).
Trong tâm hồn thơ Nguyễn Minh Khiêm, ngay trầu cau cũng trở thành tượng đài. “Miếng trầu là đầu câu chuyện” (thành ngữ Việt), sự tích trầu cau - truyện cổ tích Việt Nam chở thông điệp về nhân nghĩa, thủy chung vợ chồng.
“Tôi nhận ra/ Dân tộc ta tinh hoa và độc đáo/ Đi qua bao nhiêu tượng đài bằng xương bằng máu/ Để đến tượng đài Trầu Cau son sắt thủy chung” (Tượng đài trầu cau). Ông “thờ phụng” trầu cau như một “tượng đài” tinh thần, tượng đài cốt cách Việt.
“Ta ru nhau bằng những mùa trăng ướp trên mái tóc/ Xẻ kỷ niệm xưa làm thuyền chèo ngược hoàng hôn/ Kéo hai phía chân trời buộc tuổi mình làm võng/ Đặt quả cau lá trầu ru chú rể cô dâu” (Ru nhau).
Chắc chắn Nguyễn Minh Khiêm yêu ngọn nguồn của mình, dẫu đi trên những xa lộ thêng thang, ông vẫn luôn nhớ những con đường gồ ghề sỏi đá, ông từng đi qua phía làng. Trong thơ Nguyễn Minh Khiêm, tất cả thi ảnh về cành cây, ngọn cỏ quê nhà đều ánh lên vẻ đẹp của triết học. Hẳn ông đã máu thịt cùng quê hương, yêu làng đến run rẩy.
“Giật mình chiều nay nhà vắng ngắt/ Không bóng người, không một âm thanh/ Chỉ có cỏ, sân vườn đầy cỏ/ Cỏ chạm tay như chạm ruột gan mình”; và “Không ai thấy cỏ đau sau lá úa/ Chỉ thấy cỏ xanh, chẳng thấy cỏ giận hờn” (Lạy cỏ vườn nhà). Ông tự nhận mình là cây lác, cây năn quê nhà.
Trước cỏ vườn nhà - cọng cỏ quê hương, ông cũng dành tất cả sự kính trọng. Cỏ xuất hiện trong nhiều bài thơ khác của ông, hình thành nên vẻ đẹp triết lý về cỏ. Với Nguyễn Minh Khiêm “Những hào quang cái tên mình có được/ Lạy cỏ vườn nhà xin nhận lại quê hương” (Lạy cỏ vườn nhà).
Làng quê và tiếng mẹ là hai điều căn cốt nhất tạo nên phẩm tính con người. Thơ viết về làng của Nguyễn Minh Khiêm luôn có bóng mẹ và ngược lại. Cả hai hình bóng giao thoa vào nhau tạo ra biểu tượng. Đây cũng chính điều tạo nên cốt cách thơ Nguyễn Minh Khiêm.
“Tôi nghe tiếng mẹ tôi từ cánh đồng no ấm vọng/ Nói với tôi rơm rạ tạc tượng làng/ Được bông lúa mùi hương cong đòn gánh/ Từng nụ cười sấm chớp quất dọc ngang” (Lắng từng tiếng mẹ); “Mẹ ơi mẹ! Mẹ đã dạy con nhóm lửa/ Mẹ tự bật que diêm đời mình đốt rơm ướt ngày xưa” (Mẹ dạy con nhóm lửa).
Trong gần 200 bài thơ thể lục bát, Nguyễn Minh Khiêm có những bài thơ về làng khá hay, như “Bong bóng xuống đồng”, “Đánh giậm hồn mình”, “Dấu quê”, “Đất làng mình”....
“Đất làng mình” là bài thơ dài, gồm 96 câu thơ (48 cặp lục bát). Gần như ông tạc “tượng đài” đất làng bằng thi ca. Ở đó có văn hóa, có nhân nghĩa, có khí phách, niềm tự hào. “Đắng cay thơm ngọt vào lòng/ Cám rang ngày đói trăm vùng còn thơm/ Gốc làng gốc rạ gốc rơm/ Nghìn năm ấm giọng mẹ đơm vào lời” (Đất làng mình).
Gắn bó với làng góp phần tạo ra cốt cách thơ Nguyễn Minh Khiêm. Dường như đó là “mạch nguồn” ký ức trong ông, không bao giờ vơi. Dẫu đã ở tuổi ngoài thất thập nhưng Nguyễn Minh Khiêm vẫn viết đều, viết khỏe.
“Ta còn mấy sợi tóc xanh/ Ai xin ta tặng kẻo thành bạc phơ” (Rao vặt); “Nếu được dâng khắp mọi miền/ Xin không giữ lại bản quyền trái tim” (Rót mình ra say).
Ngô Đức Hành (CTV)
Nguồn Thanh Hóa : https://vhds.baothanhhoa.vn/nguyen-minh-khiem-la-thay-cai-dat-lang-minh-40263.htm