Nông sản Việt 2026 - Bài 1: Áp lực tăng trưởng và sự lệch pha trong giá trị xuất khẩu

Nông sản Việt 2026 - Bài 1: Áp lực tăng trưởng và sự lệch pha trong giá trị xuất khẩu
2 giờ trướcBài gốc
Bài 1: Áp lực tăng trưởng và sự lệch pha trong giá trị xuất khẩu
Dù nhiều ngành hàng ghi nhận tăng trưởng tích cực trong những tháng đầu năm 2026, nhưng bức tranh xuất khẩu nông sản Việt Nam lại cho thấy sự lệch pha rõ rệt giữa sản lượng và giá trị. Trong bối cảnh chi phí đầu vào gia tăng, thương mại toàn cầu biến động và các thị trường nhập khẩu liên tục siết tiêu chuẩn kỹ thuật, mục tiêu 73 tỷ USD không còn đơn thuần là bài toán mở rộng xuất khẩu.
Nông sản Việt Nam năm 2026 đối mặt áp lực lớn về tăng trưởng, thị trường và chi phí sản xuất.
Tăng trưởng xuất khẩu phân hóa mạnh giữa các ngành hàng
Theo định hướng điều hành của Bộ Nông nghiệp và Môi trường (NN&MT), ngành nông nghiệp đặt mục tiêu tăng trưởng GDP tối thiểu từ 3,7% trở lên và tổng kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản đạt từ 73 tỷ USD trong năm 2026. Đây là mức mục tiêu cao hơn đáng kể so với nhiều năm trước, đồng thời cũng là sức ép lớn đối với toàn bộ chuỗi sản xuất nông nghiệp trong bối cảnh thị trường thế giới thay đổi nhanh hơn giai đoạn trước dịch COVID-19.
Số liệu những tháng đầu năm 2026 cho thấy xuất khẩu nông sản tiếp tục duy trì đà tăng, nhưng tốc độ phục hồi không đồng đều giữa các ngành hàng.
Ở nhóm tăng trưởng tích cực, rau quả tiếp tục là điểm sáng lớn nhất. Ông Nguyễn Đình Tùng, Phó Chủ tịch Hiệp hội Rau quả Việt Nam (Vinafruit) cho biết, tính chung 4 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu rau quả đạt gần 2,06 tỷ USD, tăng 22% so với cùng kỳ năm trước.
Theo ông Tùng, Trung Quốc tiếp tục là thị trường tiêu thụ lớn nhất khi chiếm hơn 50% thị phần với kim ngạch hơn 1 tỷ USD, chủ yếu nhờ xuất khẩu bưởi và chanh theo các Nghị định thư đã ký kết. Ngoài Trung Quốc, các thị trường như Hàn Quốc, Mỹ, Nhật Bản và Trung Đông cũng duy trì tốc độ tăng trưởng từ 15 - 20%.
Việc nhiều loại trái cây tiếp tục mở rộng được thị phần cho thấy dư địa tăng trưởng của ngành rau quả vẫn còn khá lớn, đặc biệt trong bối cảnh nhu cầu tiêu dùng nông sản nhiệt đới đang phục hồi tại nhiều thị trường sau giai đoạn suy giảm kéo dài.
Ngành thủy sản cũng ghi nhận tín hiệu tích cực sau thời gian dài chịu tác động từ lạm phát và sức mua giảm tại các thị trường lớn. Ông Nguyễn Hoài Nam, Tổng Thư ký Hiệp hội Chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP) cho biết, kim ngạch xuất khẩu thủy sản trong 4 tháng đầu năm 2026 ước đạt khoảng 3,7 tỷ USD, tăng gần 15% so với cùng kỳ.
Theo ông Nam, ngành thủy sản đang hướng tới mục tiêu xuất khẩu trên 12 tỷ USD trong năm nay, với kỳ vọng phục hồi mạnh tại các thị trường truyền thống như Mỹ, EU, Nhật Bản và Trung Quốc.
Ở nhóm gia vị, bà Hoàng Thị Liên, Chủ tịch Hiệp hội Hồ tiêu và cây gia vị Việt Nam (VPSA) cho biết, toàn ngành đạt kim ngạch khoảng 760 triệu USD trong những tháng đầu năm, riêng mặt hàng hồ tiêu tăng 30% về lượng và tăng 22% về giá trị.
Tuy nhiên, phía sau các con số tăng trưởng vẫn là nhiều dấu hiệu cho thấy chất lượng tăng trưởng của nông nghiệp Việt Nam chưa thực sự ổn định.
Sản lượng cà phê xuất khẩu tăng nhưng giá trị kim ngạch suy giảm do giá xuất khẩu bình quân giảm so với năm 2025.
Ngành cà phê là ví dụ rõ nhất cho sự lệch pha giữa sản lượng xuất khẩu và giá trị thu về. Dù khối lượng xuất khẩu đạt khoảng 799.000 tấn, tăng 16% so với cùng kỳ, kim ngạch xuất khẩu chỉ đạt khoảng 3,7 tỷ USD, giảm 5% do giá xuất khẩu bình quân giảm sâu so với năm 2025.
Diễn biến này phản ánh thực tế nhiều ngành hàng của Việt Nam vẫn phụ thuộc lớn vào biến động giá quốc tế. Khi giá thị trường giảm, việc tăng sản lượng không còn đủ để bù đắp phần giá trị sụt giảm.
Trong khi đó, ngành gỗ và lâm sản tiếp tục chịu áp lực từ suy giảm nhu cầu tiêu dùng toàn cầu. Đại diện Hiệp hội Gỗ và lâm sản Việt Nam cho biết nhóm sản phẩm gỗ giảm khoảng 4,6%, cho thấy thị trường xuất khẩu vẫn chưa phục hồi ổn định.
Thực tế này cho thấy tăng trưởng của nhiều ngành hàng hiện vẫn chủ yếu dựa vào mở rộng sản lượng thay vì nâng cao giá trị gia tăng hoặc tăng tỷ lệ chế biến sâu. Đây cũng là nguyên nhân khiến nhiều doanh nghiệp dễ bị ảnh hưởng khi giá nguyên liệu hoặc nhu cầu thị trường biến động.
Áp lực từ “luật chơi” mới của thị trường toàn cầu
Không chỉ đối mặt với biến động nhu cầu, nhiều doanh nghiệp xuất khẩu còn chịu sức ép ngày càng lớn từ các tiêu chuẩn kỹ thuật và yêu cầu truy xuất nguồn gốc của thị trường nhập khẩu.
Nếu như trước đây lợi thế lớn nhất của nông sản Việt Nam là giá thấp và nguồn cung dồi dào, thì hiện nay các thị trường nhập khẩu ngày càng đặt nặng yêu cầu về phát thải carbon, minh bạch dữ liệu sản xuất và tiêu chuẩn môi trường.
Nhiều doanh nghiệp cho rằng áp lực lớn nhất hiện nay không còn nằm ở việc tìm đầu ra cho sản phẩm, mà là khả năng đáp ứng các “luật chơi” mới của thương mại toàn cầu.
Các chính sách bảo hộ thương mại, hàng rào kỹ thuật và tiêu chuẩn xanh đang được áp dụng đồng thời tại nhiều thị trường lớn, khiến chi phí tuân thủ của doanh nghiệp ngày càng tăng.
Đặc biệt, việc Hoa Kỳ tăng áp thuế đối ứng 15% đối với hàng hóa xuất nhập khẩu đã tạo thêm áp lực đáng kể cho nhiều doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam.
Bên cạnh đó, xung đột tại Trung Đông tiếp tục tác động tới chuỗi logistics toàn cầu, làm tăng chi phí vận tải và kéo dài thời gian giao hàng. Trong khi đó, biến đổi khí hậu khiến tình trạng hạn hán, mưa lớn, bão lũ và dịch bệnh diễn biến phức tạp hơn tại nhiều vùng sản xuất trọng điểm.
Áp lực tăng trưởng vì vậy không chỉ đến từ thị trường xuất khẩu, mà còn đến từ khả năng chống chịu của chính chuỗi sản xuất trong nước.
Theo ông Trịnh Việt Hùng, Bộ trưởng Bộ NN&MT, mục tiêu xuất khẩu từ 73 tỷ USD trở lên trong năm 2026 đòi hỏi ngành nông nghiệp phải thay đổi mô hình tăng trưởng, giảm phụ thuộc vào xuất khẩu nguyên liệu thô và nâng cao năng lực cạnh tranh của toàn chuỗi sản xuất.
Bộ trưởng Trịnh Việt Hùng cho rằng hai điểm nghẽn lớn nhất hiện nay vẫn là giá trị gia tăng thấp và sự thiếu ổn định về giá cả ở nhiều ngành hàng nông sản. Đây cũng là nguyên nhân khiến tình trạng “được mùa mất giá” kéo dài trong nhiều năm và chưa được xử lý triệt để.
Ông Trịnh Việt Hùng, Bộ trưởng Bộ NN&MT phát biểu tại Hội nghị gần đây.
Ở góc độ điều hành, Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng nhận định nông nghiệp không chỉ là lĩnh vực xuất khẩu mà còn gắn trực tiếp với sinh kế của hàng triệu hộ dân khu vực nông thôn. Theo Phó Thủ tướng, sức ép lớn nhất hiện nay là vừa duy trì tăng trưởng, vừa bảo đảm khả năng cạnh tranh trong bối cảnh tiêu chuẩn quốc tế thay đổi nhanh và chi phí sản xuất liên tục gia tăng.
Một trong những vấn đề lớn nhất hiện nay là giá trị gia tăng của nhiều ngành hàng vẫn còn thấp do phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu nguyên liệu hoặc sản phẩm sơ chế.
Dù Việt Nam nằm trong nhóm quốc gia xuất khẩu nông sản lớn trên thế giới, phần lớn doanh nghiệp vẫn đang ở vị trí thấp trong chuỗi giá trị toàn cầu. Điều này khiến biên lợi nhuận dễ bị ảnh hưởng khi giá nguyên liệu biến động hoặc nhu cầu thị trường suy giảm.
Ở nhiều ngành hàng, tăng trưởng xuất khẩu hiện vẫn chủ yếu dựa vào mở rộng quy mô sản xuất thay vì tăng tỷ lệ chế biến sâu hay xây dựng thương hiệu quốc tế. Đây cũng là nguyên nhân khiến tình trạng “được mùa mất giá” vẫn kéo dài nhiều năm và chưa được giải quyết triệt để.
Không ít doanh nghiệp cho rằng áp lực lớn nhất hiện nay là phải duy trì tăng trưởng trong bối cảnh chi phí đầu vào liên tục gia tăng. Từ logistics, vận tải, điện, nhiên liệu đến lao động đều tăng mạnh, khiến biên lợi nhuận ngày càng bị thu hẹp.
Trong khi đó, khả năng kiểm soát giá bán của doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn hạn chế do phụ thuộc lớn vào thị trường nhập khẩu và các nhà phân phối trung gian.
Nhiều chuyên gia cho rằng trong giai đoạn hiện nay, mục tiêu tăng trưởng của ngành nông nghiệp không thể tiếp tục dựa hoàn toàn vào mở rộng quy mô xuất khẩu như trước.
Thay vào đó, vấn đề cốt lõi là nâng giá trị gia tăng, tăng tỷ lệ chế biến sâu và xây dựng chuỗi cung ứng ổn định hơn. Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh các quốc gia nhập khẩu ngày càng kiểm soát chặt tiêu chuẩn môi trường và truy xuất nguồn gốc.
Ngành sầu riêng Việt Nam hướng tới tăng chế biến sâu để nâng giá trị và giảm rủi ro từ biến động giá xuất khẩu.
Nếu không thay đổi mô hình tăng trưởng, nông sản Việt Nam sẽ đối mặt nguy cơ giảm sức cạnh tranh ngay tại các thị trường đang giữ thị phần lớn.
Áp lực 73 tỷ USD vì vậy không chỉ là câu chuyện về kim ngạch xuất khẩu. Đó còn là áp lực tái cấu trúc toàn bộ chuỗi sản xuất nông nghiệp trong bối cảnh môi trường thương mại toàn cầu thay đổi nhanh hơn nhiều so với giai đoạn trước.
Nhưng phía sau áp lực tăng trưởng không chỉ là câu chuyện thị trường. Khi vùng nguyên liệu thiếu ổn định, chi phí logistics leo thang và chuỗi cung ứng liên tục đứt gãy, nhiều doanh nghiệp cho rằng bài toán lớn nhất hiện nay không còn là bán được hàng hay không, mà là còn đủ sức duy trì năng lực cạnh tranh trong cuộc đua xuất khẩu ngày càng khốc liệt.
Bài 2: Từ nỗi lo vùng nguyên liệu đến ‘vòng xoáy’ chi phí
Bài, ảnh: Lưu Niệm/Báo Tin tức và Dân tộc
Nguồn Tin Tức TTXVN : https://baotintuc.vn/kinh-te/nong-san-viet-2026-bai-1-ap-luc-tang-truong-va-su-lech-pha-trong-gia-tri-xuat-khau-20260514175347413.htm