Phát triển mạnh đường thủy: Nâng cấp 3.000km luồng tuyến, tăng thị phần vận tải lên 30%

Phát triển mạnh đường thủy: Nâng cấp 3.000km luồng tuyến, tăng thị phần vận tải lên 30%
một giờ trướcBài gốc
Phát triển đồng bộ, hiện đại kết cấu hạ tầng và phương tiện vận tải đường thủy
Việt Nam hiện sở hữu hệ thống sông ngòi dày đặc với tổng chiều dài xấp xỉ 41.900km, trong đó 17.253km (chiếm 41,2%) đang được đưa vào quản lý khai thác là đường thủy nội địa. Trước khi sáp nhập, Cục Đường thủy nội địa Việt Nam (nay là Cục Hàng hài và Đường thủy VN) trực tiếp quản lý 7.180,8km tuyến quốc gia, còn các tuyến tại miền Trung, TP.HCM, Hải Phòng, Hà Nam... được ủy thác cho địa phương quản lý và bảo trì.
Định hướng đến năm 2050, đường thủy nội địa trở thành phương thức vận tải xương sống trong vận chuyển hàng hóa khối lượng lớn và trung chuyển nội địa - ven biển, chiếm tỷ trọng trên 35% tổng sản lượng vận tải quốc gia.
Trong hệ thống đường thủy quốc gia, cấp kỹ thuật III chiếm tỷ trọng lớn nhất (3.632,2km), phản ánh việc hạ tầng kỹ thuật chưa đồng bộ và chưa đáp ứng yêu cầu cho phương tiện tải trọng lớn.
Do đó, theo Cục Hàng hải và Đường thủy VN, Đề án sẽ đóng vai trò là công cụ quan trọng nhằm triển khai đồng bộ các chủ trương lớn, cụ thể như góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng GDP hai con số, thông qua việc giảm chi phí logistics và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Đồng thời, thúc đẩy khoa học, công nghệ và chuyển đổi số, thông qua việc ứng dụng số hóa trong quản lý luồng tuyến, hiện đại hóa cảng bến, khai thác dữ liệu lớn và tăng cường kết nối logistics. Phát huy vai trò của kinh tế tư nhân trong lĩnh vực vận tải thủy nội địa, thông qua đẩy mạnh xã hội hóa đầu tư vào cảng bến và đội tàu.
Đặc biệt, việc phát triển kết cấu hạ tầng và vận tải đường thủy nội địa còn đáp ứng xu thế toàn cầu và cam kết của Việt Nam tại COP26 về đạt mức phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050. Với mức phát thải CO2 thấp, đường thủy nội địa là phương thức vận tải "xanh" và bền vững, đóng vai trò trung tâm trong quá trình chuyển đổi xanh ngành giao thông.
Đề án nghiên cứu toàn bộ mạng lưới đường thủy nội địa quốc gia từ hệ thống kết cấu hạ tầng, phương tiện vận tải thủy nội địa, các dịch vụ liên quan và cơ chế chính sách quản lý. Trong đó, tập trung vào các hành lang vận tải chính, đặc biệt là khu vực Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long.
Mục tiêu nghiên cứu chính là phát triển đồng bộ, hiện đại kết cấu hạ tầng và phương tiện vận tải ĐTNĐ. Hiện đại hóa dịch vụ vận tải, tăng tỷ trọng vận tải thủy nội địa, giảm chi phí logistics. Phát triển logistics gắn với vận tải thủy, tăng kết nối đa phương thức, liên kết vùng. Đẩy mạnh xã hội hóa đầu tư, ứng dụng công nghệ số, nâng cao năng lực quản lý, bảo đảm an toàn giao thông, bảo vệ môi trường và hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển bền vững vận tải thủy nội địa đến năm 2035.
Mục tiêu nâng cấp tối thiểu 3.000km luồng tuyến, thị phần vận tải hàng hóa bằng đường thủy chiếm tới 30%
Dự thảo đề án đã đưa ra những định hướng phát triển kết cấu hạ tầng và dịch vụ vận tải đường thủy nội địa giai đoạn 2026 – 2035.
Trong đó, mục tiêu đến năm 2030, hoàn thành cải tạo, nâng cấp các hành lang vận tải thủy quốc gia trọng điểm, bảo đảm khả năng tiếp nhận phương tiện từ 1.000–2.000 tấn và tàu container 2 - 3 lớp tại các tuyến chính. Nâng cấp tối thiểu 3.000km luồng tuyến quan trọng, xử lý dứt điểm các "nút thắt" tĩnh không và độ sâu tại khu vực phía Bắc và Đông Nam Bộ.
Cùng đó, hoàn thành kết nối đồng bộ đường thủy với các cảng biển cửa ngõ, đặc biệt là Hải Phòng và Cái Mép - Thị Vải.
Về cảng, bến và logistics, phát triển hệ thống cảng thủy nội địa đầu mối tại đồng bằng sông Hồng, Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long, tối thiểu 10 cảng đạt tiêu chuẩn phục vụ container. Đồng thời, giảm tối thiểu 20% số lượng bến thủy nội địa tự phát, nâng tỷ lệ bến được cấp phép và quản lý chính quy lên trên 85%.
Về thị phần vận tải và dịch vụ vận tải, sẽ nâng thị phần hàng hóa vận chuyển bằng đường thủy nội địa lên 25–30% tổng sản lượng vận tải hàng hóa quốc gia. Tỷ lệ container vận chuyển bằng đường thủy nội địa tăng lên 15–20% qua hệ thống cảng biển, riêng khu vực phía Bắc tối thiểu đạt 5–7%. Các tuyến vận tải container cố định kết nối với Hải Phòng, Cái Mép - Thị Vải và khu vực ĐBSCL sẽ hoàn thiện.
Một trong những mục tiêu trong giai đoạn này là tỷ lệ phương tiện có công nghệ giám sát hành trình, định vị, quản lý nhiên liệu đạt 100% với tàu VR-SB và 70% với phương tiện loại lớn. Tất cả phương tiện VR-SB phải được trang bị đầy đủ thiết bị an toàn, cứu nạn, AIS, SART theo tiêu chuẩn mới.
Giai đoạn này, cũng hình thành ít nhất 5 doanh nghiệp vận tải thủy quy mô lớn, đủ năng lực tổ chức vận tải đa phương thức và khai thác tuyến container ổn định. Nâng tỷ lệ thuyền viên có chứng chỉ, bằng cấp đúng quy định lên 90%.
Chuyển đổi số, chuyển đổi xanh được tăng cường với tối thiểu 50% cảng thủy nội địa lớn ứng dụng hệ thống điều hành cảng điện tử, quản lý hàng hóa và tàu thuyền bằng công nghệ số. Triển khai thí điểm "cảng xanh – tuyến xanh – phương tiện xanh", giảm phát thải CO2 của ngành đường thủy tối thiểu 10% so với năm 2020.
Định hướng đến năm 2050, đường thủy nội địa trở thành phương thức vận tải xương sống trong vận chuyển hàng hóa khối lượng lớn và trung chuyển nội địa - ven biển, chiếm tỷ trọng trên 35% tổng sản lượng vận tải quốc gia. Hình thành mạng lưới tuyến vận tải thủy chuẩn hóa, hiện đại, đạt tiêu chuẩn khu vực. Doanh nghiệp vận tải thủy Việt Nam tham gia sâu vào chuỗi vận tải khu vực, khai thác hiệu quả hành lang Mekong – ASEAN và các tuyến ven biển quốc tế bằng đội tàu VR-SB thế hệ mới.
Hệ thống cảng thủy nội địa đạt chuẩn quốc tế, tích hợp hoàn toàn với mạng lưới logistics thông minh, vận hành bằng số hóa, tự động hóa và giá trị gia tăng dịch vụ cao. Vận tải thủy nội địa cơ bản hoàn thành chuyển đổi xanh, 80–90% phương tiện sử dụng nhiên liệu sạch (LNG, hybrid, điện hóa), hạ tầng được thiết kế chống chịu biến đổi khí hậu và nước biển dâng.
Để đạt được những mục tiêu đó, dự thảo Đề án đã đề xuất 9 nhóm giải pháp, cơ chế chính sách về các vấn đề: Hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật; đầu tư phát triển và quản lý, bảo trì kết cấu hạ tầng đường thủy nội địa; phát triển phương tiện và thị trường vận tải; phát triển dịch vụ logistics và vận tải đa phương thức.
Ngoài ra, còn có các nhóm giải phải, cơ chế chính sách về khoa học công nghệ và chuyển đổi số; chuyển đổi xanh; nhóm giải pháp về vốn, quản lý nhà nước và phát triển nhân lực.
Hoàng Anh
Nguồn Xây Dựng : https://baoxaydung.vn/phat-trien-manh-duong-thuy-nang-cap-3000-km-luong-tuyen-tang-thi-phan-van-tai-len-30-192251129155241342.htm