'Quyền lực mềm' từ đâu mà có?

'Quyền lực mềm' từ đâu mà có?
một giờ trướcBài gốc
Từ cách tôn trọng nhà sản xuất và đạo diễn, sự khiêm cung của nhà tài trợ, và cả sự tính toán “thời điểm vàng” để ra mắt và khuếch trương sức ảnh hưởng toàn cầu của các sản phẩm văn hóa, nội dung. Nhưng bốn tập phim vẫn chưa là tất cả về khái niệm “quyền lực mềm” của Hàn Quốc.
Nhà sản xuất, người dẫn chương trình Daniel Dae Kim (trái) trò chuyện với Corey Lee, đầu bếp người Hàn đầu tiên đạt 3 sao Michelin trong tập về K-food của series phim “K-Everything”. Ảnh: Hyundai Motor Group
Mỗi thứ Bảy của tháng 5 này, khán giả CNN trên thế giới sẽ có dịp tiếp cận, khám phá quá trình phát triển của nền công nghiệp nội dung và văn hóa Hàn Quốc, từ các giá trị truyền thống đến vị thế toàn cầu hiện nay. Phim cũng được chiếu lại trên ứng dụng CNN và một vài nền tảng trực tuyến ở Mỹ và một số thị trường khác.
Phá vỡ mọi định kiến, tư duy cũ
Ấn tượng đầu tiên là sự cao tay của Hàn Quốc, Hyundai và CNN khi chọn Daniel Dae Kim cho cả series. Là diễn viên và nhà sản xuất Hollywood nổi tiếng, Kim giữ vai trò là nhà sản xuất cũng là người dẫn chuyện và cũng là trung tâm kết nối của bộ phim.
Không chỉ phá vỡ các định kiến của Hollywood về diễn viên gốc Á trong loạt phim truyền hình Lost hay Hawaii Five-0, Kim còn là biểu tượng đi tiên phong đấu tranh cho quyền bình đẳng thù lao cho diễn viên da màu. Là nhà sản xuất đứng sau cú hit The Good Doctor và là một trong 100 người có ảnh hưởng nhất thế giới năm 2025 do tạp chí Time bình chọn, Kim đại diện cho tư duy nghệ thuật toàn cầu “không gò bó tác phẩm với những nhãn mác quốc tịch hẹp hòi”. Chọn Kim, nền công nghiệp nội dung Hàn Quốc không chỉ mượn một gương mặt nổi tiếng, mà đang khuếch âm một tiếng nói có sức nặng ra tầm toàn cầu.
CNN và Hyundai - và ở góc độ nào đó là Chính phủ Hàn Quốc - đã không can thiệp sâu vào các quyết định của Kim. Chẳng hạn, trong tập 1, Kim đã chọn ba ngôi sao gạo cội là Psy, Taeyang và Jeon Somi để giải mã về quyền lực K-pop và sức mạnh của người hâm mộ (fandom) toàn cầu.
Cần nhắc lại Psy với Gangnam Style đã phá đảo mọi bảng xếp hạng âm nhạc toàn cầu năm 2012, mở đường cho âm nhạc K-pop vươn lên tầm mới. Khi giới trẻ bắt đầu quên Psy và không nhớ Taeyang hay Jeon Somi là ai, Kim lại nhắc đến các viên gạch xây nên nền tảng để BTS hay Blackpink tỏa sáng hôm nay.
Ba tập tiếp theo lần lượt giải mã cú bứt phá của điện ảnh Hàn để thắng lớn cả nghệ thuật lẫn thương mại qua góc nhìn của giới tinh hoa; theo chân các đầu bếp Michelin đưa ẩm thực đường phố lên bàn tiệc quốc tế; và mổ xẻ cách K-beauty định hình tiêu chuẩn thẩm mỹ toàn cầu.
Kế đến là sự hiện diện hay tiếng nói của hãng xe Hyundai trong bộ phim. Các bên không tiết lộ số tiền Hyundai tài trợ để thực hiện K-Everything. Không được xướng danh kiểu “rổn rảng” hoặc khoa trương, hãng xe Hàn chỉ xuất hiện trong dòng khiêm tốn “đồng hành cùng Hyundai” trong các trailer quảng cáo của CNN và các tập phim.
Nhưng sự khăng khít đã 22 năm nay giữa CNN và Hyundai lại cho thấy mối quan hệ cộng hưởng giữa truyền thông và doanh nghiệp ở tầm toàn cầu. Họ chuyển tải các thông điệp “quyền lực mềm” trước, sau đó mới là bán hàng.
Cuối cùng, thời điểm ra mắt K-Everything dường như được tính toán rất kỹ lưỡng, nếu không là ngẫu nhiên. Đó là sự tiếp nối của chuỗi thành công của bài hát Golden với các giải Golden Globe, Critics’ Choice, Grammy và Oscar trong mỗi tháng của quí 1. Đến tháng 4 là khởi đầu của tour diễn Arirang World Tour của BTS.
Tập 4 của bộ phim kết thúc là khi thế giới háo hức hướng về giải vô địch bóng đá thế giới World Cup 2026 ở Bắc Mỹ. Lisa của Blackpink sẽ làm nên lịch sử khi là nữ nghệ sĩ K-pop đầu tiên biểu diễn mở màn tại lễ khai mạc ở Los Angeles vào ngày 12-6. Còn BTS sẽ “khóa đuôi” trong lễ bế mạc hôm 19-7 tại sân vận động ở New York.
Như vậy, ngành công nghệ K-Everything đã có màn trình diễn với rất nhiều điểm nhấn, trong nhiều tháng liên tục của năm 2026.
Canh bạc của các cặp “vợ chồng ngỗng”?
“Quyền lực mềm” của Hàn Quốc sẽ chỉ là canh bạc cháy túi, nếu chỉ nhắc đến sự đầu tư của chính phủ hay hỗ trợ của doanh nghiệp, mà không trân trọng sự hy sinh của các bậc phụ huynh ở thập niên 1980-1990. Đặc biệt là khi các gia đình châu Á chú trọng đầu tư cho con học bác sĩ, kỹ sư hay các ngành công nghệ để kiếm tiền nhanh.
Trước năm 1989, người Hàn không được phép tự do xuất ngoại, việc du học rất hiếm hoi và chỉ dành cho lớp trâm anh thế phiệt, con cái của các chaebol hay gia tộc giàu có, hoặc số học bổng chính phủ ít ỏi. Thập niên 1990, khi biên giới mở rộng hơn, nhiều gia đình bậc trung mới mạnh dạn gửi con đi học các ngành nghệ thuật.
Họ đã phải cầm cố hay bán nhà để có “tiền cứng” cho con đi học Âu - Mỹ, lấy tấm bằng “văn hóa mềm” ở các ngành điện ảnh, âm nhạc, biểu diễn… Nhiều phụ nữ theo con đi Tây, chấp nhận làm việc lao động chân tay để vừa chăm sóc con, vừa kiếm thêm tiền để phụ chồng ở quê nhà. Người Hàn có cụm từ gireogi appa - ông bố ngỗng - để chỉ những người đàn ông sống cô độc trong căn trọ tồi tàn, ăn uống qua loa và chỉ biết làm cật lực để gửi tiền đóng học phí cho con…
Những cặp “vợ chồng ngỗng” như vậy là góc khuất, ít ai đề cập trong quá trình phát triển kinh tế và văn hóa Hàn Quốc.
Khi đầu tư, chính phủ nước này đã tính toán kỹ tỷ lệ sinh lời (ROI) của ngành công nghiệp nội dung và văn hóa: Cứ mỗi 100 đô la xuất khẩu nội dung văn hóa sẽ kéo theo khoảng 248 đô la xuất khẩu các mặt hàng tiêu dùng liên quan (như mỹ phẩm, thực phẩm, quần áo). Các thống kê gồm điện tử gia dụng và điện thoại di động thông minh cho con số lên đến 412 đô la.
Trong kỷ nguyên số và AI, chính phủ dành 1,31 tỉ đô la (1.740 tỉ won) để hỗ trợ các lĩnh vực trò chơi điện tử, truyện tranh mạng (webtoon) và tích hợp AI vào du lịch, theo Korea TimesKorea Herald. Đây là chiến lược củng cố “quyền lực mềm”, giúp Hàn Quốc đạt kỷ lục tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa toàn quốc lần đầu vượt mốc 700 tỉ đô la trong năm 2025.
Bao giờ V-Everything?
Hành trình của K-Everything thật sự là bài học đắt giá cho Việt Nam trong nỗ lực phát triển ngành công nghiệp nội dung và văn hóa quốc gia vào lúc này. Đó là chiến lược khi nào cần “cứng” về đầu tư và chính sách hỗ trợ mọi mặt của chính phủ, quá trình đồng hành của doanh nghiệp và sự đồng lòng của của các bậc phụ huynh.
Việt Nam có muốn một V-Everything?
Dĩ nhiên ai cũng muốn. Tuy vậy, xây dựng nền tảng cho “quyền lực mềm” không hoàn toàn là những lời hô hào suông, mà cần khung chính sách hỗ trợ, lớp doanh nghiệp dám cam kết dài hạn như các chaebol Hàn, và một cơ chế khiến các bậc phụ huynh dám đặt niềm tin vào tương lai nghệ thuật của con cái.
Khi chiến lược đã đủ trưởng thành về mọi mặt, đó chính là lúc chúng ta gặt hái những quả ngọt của “quyền lực mềm” và tự tin để nói về “V-Everything”?
Song Hảo
Nguồn Saigon Times : https://thesaigontimes.vn/quyen-luc-mem-tu-dau-ma-co/