Nghị định số 290/2025/NĐ-CP ngày 6/11/2025 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước có hiệu lực từ ngày 25/12/2025.
Thực hiện chỉ đạo của Bộ NN&MT về việc triển khai Nghị định số 290/2025/NĐ-CP ngày 6/11/2025 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước; các thông tư của Bộ trưởng Bộ NN&MT: số 52/2025/TT-BNNMT ngày 25/8/2025 quy định kỹ thuật quan trắc tài nguyên nước và cảnh báo, dự báo nguồn nước, số 61/2025/TT-BNNMT ngày 17/10/2025 quy định định mức kinh tế - kỹ thuật quan trắc tài nguyên nước và cảnh báo, dự báo nguồn nước, số 64/2025/TT-BNNMT ngày 10/11/2025 quy định kỹ thuật về cấu trúc, chuẩn dữ liệu quốc gia về tài nguyên nước, Sở NN&MT đề nghị các cơ quan, đơn vị, địa phương và các tổ chức, cá nhân có liên quan theo chức năng, nhiệm vụ được giao thực hiện các nội dung liên quan.
Cụ thể, cần chủ động nghiên cứu, kịp thời quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc và tuyên truyền, phổ biến rộng rãi trên các phương tiện truyền thông hoặc các hình thức phù hợp khác để bảo đảm thực hiện đầy đủ, chính xác các quy định tại các nghị định và thông tư nêu trên.
Đối với các quy định tại Nghị định số 290/2025/NĐ-CP , cần lưu ý một số nội dung mới so với quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước tại các nghị định số 36/2020/NĐ-CP ngày 24/3/2020, số 04/2022/NĐ-CP ngày 6/1/2022, cụ thể: (1) số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước được quy định chi tiết hơn về cách tính (khoản 4 Điều 4); (2) một số quy định cụ thể hơn để xác định hành vi vi phạm tránh sự hiểu khác nhau về pháp luật được quy định (Điều 6 quy định về thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính, các hành vi vi phạm đã kết thúc, các hành vi vi phạm đang thực hiện trong lĩnh vực tài nguyên nước; Điều 7 quy định về nguyên tắc xác định hành vi vi phạm); (3) Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả (Chương III) và một số quy định cụ thể khác.
Đối với các quy định tại Thông tư số 52/2025/TT-BNNMT , cần lưu ý một số nội dung sau: (1) về phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng: quy định kỹ thuật áp dụng đối với các cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan đến hoạt động quan trắc tài nguyên nước (nước mặt, nước dưới đất, chất lượng nước) và cảnh báo, dự báo nguồn nước theo quy định của pháp luật về tài nguyên nước; (2) quy định trình tự, nội dung thực hiện quan trắc, hình thức quan trắc đối với điểm, trạm, công trình quan trắc tài nguyên nước đang thực hiện và xây dựng mới; (3) quy định về điều khoản chuyển tiếp: đối với những điểm, trạm, công trình quan trắc tài nguyên nước đang thực hiện quan trắc theo kế hoạch, nhiệm vụ đã được phê duyệt trước ngày Thông tư số 52/2025/TT-BNNMT có hiệu lực thi hành thì tiếp tục thực hiện theo các quy định tại thời điểm phê duyệt đến khi hoàn thành; các quy định kỹ thuật về quan trắc tài nguyên nước, cảnh báo, dự báo nguồn nước theo pháp luật về tài nguyên nước tại các văn bản khác do Bộ TN&MT (nay là Bộ NN&MT) hoặc ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố ban hành trước ngày Thông tư số 52/2025/TT- BNNMT có hiệu lực thi hành mà có quy định khác với quy định của Thông tư số 52/2025/TT-BNNMT thì áp dụng theo Thông tư số 52/2025/TT-BNNMT và các quy định cụ thể khác.
Đối với các quy định tại Thông tư số 61/2025/TT-BNNMT , cần lưu ý một số nội dung sau: (1) về phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng: áp dụng với các cơ quan nhà nước, tổ chức và cá nhân có liên quan để tính đơn giá dự toán kinh phí và quyết toán các hạng mục công việc phục vụ cho hoạt động quan trắc tài nguyên nước (nước mặt, nước dưới đất, chất lượng nước) và cảnh báo, dự báo nguồn nước; (2) Quy định chuyển tiếp: đối với khối lượng công việc quan trắc tài nguyên nước và cảnh báo, dự báo nguồn nước đã thực hiện trước thời điểm Thông tư số 61/2025/TT-BNNMT có hiệu lực thi hành thì không phải điều chỉnh theo quy định của Thông tư số 61/2025/TT-BNNMT; đối với khối lượng công việc quan trắc tài nguyên nước và cảnh báo, dự báo nguồn nước chưa thực hiện trước thời điểm Thông tư số 61/2025/TT-BNNMT có hiệu lực thì điều chỉnh theo quy định của Thông tư số 61/2025/TT-BNNMT và các quy định cụ thể khác.
Đối với các quy định tại Thông tư số 64/2025/TT-BNNMT , cần lưu ý một số nội dung sau: (1) về việc giám sát khai thác tài nguyên nước: Trường hợp công trình khai thác tài nguyên nước đã thực hiện việc cập nhật, kết nối, truyền số liệu vào hệ thống giám sát khai thác, sử dụng tài nguyên nước trước ngày Thông tư số 64/2025/TT-BNNMT có hiệu lực thì tiếp tục thực hiện và khuyến khích nâng cấp để truyền dữ liệu theo phương thức web service về hệ thống giám sát; trường hợp công trình khai thác tài nguyên nước thực hiện việc cập nhật, kết nối, truyền số liệu để phục vụ giám sát khai thác tài nguyên nước kể từ ngày Thông tư số 64/2025/TT-BNNMT có hiệu lực thì truyền dữ liệu theo phương thức web service, không cho phép truyền dữ liệu qua hệ thống trung gian; (2) đối với các cơ sở dữ liệu về tài nguyên nước, hệ thống giám sát khai thác, sử dụng tài nguyên nước và các cơ sở dữ liệu, hệ thống khác liên quan đang vận hành thì tiếp tục thực hiện và phải nâng cấp theo cấu trúc, chuẩn dữ liệu quy định của Thông tư số 64/2025/TT-BNNMT khi tích hợp vào Hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu tài nguyên nước quốc gia; (3) trường hợp trong Thông tư số 64/2025/TT-BNNMT có nội dung quy định về cấu trúc, chuẩn dữ liệu, yêu cầu hạ tầng công nghệ thông tin, phần mềm và việc cập nhật cơ sở dữ liệu tài nguyên nước khác với các quy định của Luật Dữ liệu số 60/2024/QH15 thì áp dụng theo quy định của Luật Dữ liệu; (4) trường hợp tên của các quy hoạch về tài nguyên nước thay đổi theo quy định của văn bản pháp luật mới thì thông tin, dữ liệu của quy hoạch về tài nguyên nước mới vẫn được cập nhật vào cơ sở dữ liệu quy hoạch về tài nguyên nước theo quy định tại Điều 6 của Thông tư số 64/2025/TT-BNNMT và các quy định cụ thể khác.
Đồng thời với các nội dung trên, cần tiếp tục rà soát, đôn đốc các tổ chức, cá nhân thăm dò, khai thác tài nguyên nước và hành nghề khoan nước dưới đất thuộc trường hợp phải đăng ký, cấp giấy phép nhưng chưa đăng ký, cấp giấy phép hoặc phải kê khai, điều chỉnh tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước nhưng chưa kê khai, điều chỉnh tiền cấp quyền khẩn trương thực hiện đăng ký khai thác tài nguyên nước, nộp hồ sơ đề nghị cấp giấy phép, hồ sơ tính tiền cấp quyền tới cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo đúng quy định của pháp luật.
Tổ chức thanh tra, kiểm tra, trường hợp phát hiện có vi phạm thì thực hiện xử phạt vi phạm hành chính đối với các công trình đã khai thác tài nguyên nước nhưng chưa có giấy phép, hoặc đã có giấy phép nhưng khai thác vượt quá lưu lượng, lắp máy vượt quá công suất (đối với khai thác nước mặt cho thủy điện) được cấp phép, cần áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả là buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm. Việc tính toán số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước được thực hiện theo quy định tại khoản 4 Điều 4 Nghị định số 290/2025/ND-CP.
Chủ động rà soát, đề xuất sửa đổi, bổ sung các văn bản thuộc thẩm quyền bảo đảm phù hợp với quy định tại Nghị định 290/2025/NĐ-CP và các Thông tư số 52, 61, 64/2025/TT-BNNMT.
P.V