Trong bài viết, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nêu rõ: “Chuyển đổi xanh phải trở thành động lực nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Cần đẩy mạnh sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, phát triển năng lượng tái tạo phù hợp với an ninh hệ thống, giảm dần phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch, thúc đẩy công nghiệp ít phát thải, nông nghiệp sinh thái, giao thông công cộng, công trình xanh, vật liệu xanh và kinh tế tuần hoàn. Doanh nghiệp phải được đặt ở vị trí trung tâm của quá trình chuyển đổi, bởi chính doanh nghiệp là nơi đổi mới công nghệ, tổ chức lại chuỗi cung ứng, tạo việc làm xanh và đáp ứng các tiêu chuẩn mới của thị trường quốc tế”.
Thông điệp ấy được đưa ra trong bối cảnh thế giới đang chứng kiến những biến động sâu sắc về năng lượng, môi trường và mô hình phát triển. Cạnh tranh địa chính trị, đứt gãy chuỗi cung ứng, biến động giá nhiên liệu cùng những cam kết ngày càng khắt khe về giảm phát thải đang đặt các quốc gia trước yêu cầu phải tìm kiếm một con đường phát triển mới. Tăng trưởng kinh tế cần đi đôi với sử dụng hiệu quả năng lượng và bảo vệ môi trường. Đối với Việt Nam, khi mục tiêu tăng trưởng nhanh và bền vững được đặt ra ở mức cao hơn trong giai đoạn tới, câu chuyện tiết kiệm năng lượng không còn dừng ở việc giảm hóa đơn tiền điện hay tiết giảm chi phí sản xuất, mà đã trở thành một trong những điều kiện nền tảng để bảo đảm an ninh năng lượng, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Đáp ứng mục tiêu tăng trưởng hai con số
Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng xác định rõ một trong những chỉ tiêu phát triển chủ yếu giai đoạn 2026 - 2030 là giảm tiêu hao năng lượng tính trên đơn vị GDP ở mức từ 1 - 1,5% mỗi năm. Đây là một chỉ tiêu có ý nghĩa rất lớn. Một nền kinh tế tạo ra nhiều giá trị hơn trên cùng một đơn vị năng lượng tiêu thụ sẽ có năng suất cao hơn, sức cạnh tranh lớn hơn và khả năng chống chịu tốt hơn trước các cú sốc.
Dư địa tiết kiệm năng lượng của Việt Nam vẫn còn rất lớn. Ảnh: Cấn Dũng
Cùng với Đại hội XIV, Kết luận Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV tiếp tục cụ thể hóa tư duy này bằng hàng loạt mục tiêu định lượng, gắn trực tiếp với lĩnh vực năng lượng. Trong đó, giảm tiêu hao năng lượng trên GDP từ 1 - 1,5% mỗi năm tiếp tục được xác lập như một chỉ tiêu quan trọng; tỷ lệ doanh nghiệp công nghiệp áp dụng các giải pháp sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả đến năm 2030 đạt từ 70 - 75%; tỷ lệ tự dùng và tổn thất điện năng giảm xuống còn không quá 10,7%.
Rõ ràng, khi nền kinh tế đặt mục tiêu tăng trưởng ở mức hai con số, nhu cầu năng lượng sẽ tiếp tục gia tăng mạnh mẽ. Nếu tăng trưởng chỉ dựa vào mở rộng quy mô tiêu thụ điện và nhiên liệu, áp lực đầu tư vào nguồn điện, lưới điện, hạ tầng năng lượng và nhiên liệu đầu vào sẽ ngày càng lớn. Chi phí sản xuất tăng lên, sức cạnh tranh của doanh nghiệp bị ảnh hưởng, trong khi các mục tiêu về môi trường và phát thải cũng trở nên khó đạt được hơn.
Vì vậy, tiết kiệm năng lượng đang được nhìn nhận như một “nguồn năng lượng đầu tiên” của nền kinh tế. Mỗi kilowatt giờ điện được tiết kiệm thành công đồng nghĩa với việc giảm áp lực đầu tư nguồn điện mới, giảm nhu cầu nhập khẩu nhiên liệu, giảm phát thải khí nhà kính và tạo thêm dư địa cho tăng trưởng.
Thực tế cho thấy, dư địa tiết kiệm năng lượng của Việt Nam vẫn còn rất lớn. Các chuyên gia cho rằng việc ứng dụng công nghệ số, tối ưu hóa vận hành và quản lý năng lượng trong sản xuất công nghiệp, các tòa nhà thương mại và công trình dịch vụ có thể giúp tiết kiệm từ 30 - 40% lượng điện tiêu thụ, thậm chí trong một số trường hợp đạt tới 70%. Đây là nguồn lực đặc biệt quan trọng trong bối cảnh nhu cầu điện tiếp tục tăng nhanh cùng tốc độ phát triển của nền kinh tế.
Giải pháp quan trọng hàng đầu
Chỉ thị số 09/CT-TTg ngày 19/3/2026 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường thực hiện tiết kiệm năng lượng, thúc đẩy chuyển dịch năng lượng và phát triển phương tiện giao thông điện, đã xác định sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, chuyển dịch năng lượng là một trong những giải pháp quan trọng hàng đầu nhằm giảm thiểu rủi ro về nguồn cung năng lượng, giảm chi phí sản xuất, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế, đồng thời góp phần bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng quốc gia.
Các mục tiêu tiết kiệm năng lượng lần này được lượng hóa rất cụ thể: Đến năm 2030, Việt Nam phấn đấu giảm tiêu hao năng lượng trên đơn vị GDP từ 1 - 1,5% mỗi năm; đạt tỷ lệ tiết kiệm điện tối thiểu 3% mỗi năm đối với các cơ sở sử dụng năng lượng trọng điểm; giảm điện năng dùng cho truyền tải và phân phối xuống còn 5,8%; 100% cơ sở sử dụng năng lượng trọng điểm thực hiện kiểm toán năng lượng định kỳ và áp dụng hệ thống quản lý năng lượng.
Trên thế giới, cùng với sự phát triển của khoa học, công nghệ, nhiều quốc gia đã nhận ra rằng nguồn năng lượng rẻ nhất, sạch nhất và hiệu quả nhất chính là phần năng lượng được tiết kiệm. Thay vì chỉ tập trung tạo thêm nguồn cung, việc quản lý nhu cầu sử dụng năng lượng đang trở thành một cấu phần quan trọng trong chiến lược phát triển năng lượng quốc gia.
Tư duy ấy tiếp tục được thể hiện rõ trong Chỉ thị số 10/CT-TTg về tăng cường thực thi tiết kiệm điện và phát triển điện mặt trời mái nhà. Trong bối cảnh nhu cầu điện tăng mạnh vào các tháng cao điểm nắng nóng, đặc biệt khi nền kinh tế đang bước vào giai đoạn tăng trưởng cao hơn, tiết kiệm điện được đặt ngang hàng với các giải pháp phát triển nguồn điện mới. Đây là bước chuyển quan trọng trong nhận thức quản lý, bởi bảo đảm đủ điện không chỉ là trách nhiệm của ngành điện mà cần sự tham gia của toàn xã hội.
Cùng với các chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, việc ban hành Nghị định số 30/2026/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý cho lĩnh vực này. Hệ thống quy định về kiểm toán năng lượng, quản lý năng lượng, dán nhãn năng lượng, phát triển thị trường dịch vụ năng lượng, xử lý vi phạm và loại bỏ các thiết bị hiệu suất thấp đang từng bước tạo ra một khuôn khổ quản trị hiện đại, tiệm cận với thông lệ quốc tế.
Tổng Công ty Điện lực miền Nam (EVNSPC), Công ty Điện lực Vĩnh Long tổ chức Giải chạy hưởng ứng “Toàn dân sử dụng năng lượng tiết kiệm hiệu quả và hưởng ứng Chiến dịch Giờ Trái đất năm 2026”.
Nếu trước đây tiết kiệm năng lượng chủ yếu được hiểu theo nghĩa vận động người dân tắt bớt bóng đèn hay hạn chế sử dụng thiết bị điện trong giờ cao điểm, thì hiện nay nội hàm của khái niệm này được mở rộng đáng kể. Đó là đổi mới công nghệ trong sản xuất công nghiệp; ứng dụng chuyển đổi số trong quản lý năng lượng; xây dựng công trình xanh; phát triển giao thông điện; thúc đẩy nhiên liệu sinh học; sử dụng pin lưu trữ năng lượng; nâng cao hiệu suất thiết bị và tối ưu hóa toàn bộ chuỗi cung ứng. Đây cũng chính là những nội dung được Chính phủ yêu cầu triển khai đồng bộ trong các ngành công nghiệp, giao thông, xây dựng và dịch vụ.
Ngành Công Thương tạo chuyển động mới
Cùng với nhiệm vụ bảo đảm đủ điện cho phát triển kinh tế - xã hội, Bộ Công Thương nói riêng, ngành Công Thương nói chung từng bước chuyển trọng tâm điều hành thông qua việc hài hòa giữa phát triển nguồn điện và quản lý nhu cầu sử dụng điện. Đây là xu hướng đang được nhiều quốc gia áp dụng nhằm nâng cao hiệu quả vận hành hệ thống năng lượng.
Thực tế vận hành hệ thống điện trong mùa nắng nóng năm 2026 cho thấy ý nghĩa của cách tiếp cận này. Khi nhiệt độ tại nhiều địa phương miền Bắc liên tục vượt ngưỡng 40 độ C, nhu cầu sử dụng điện tăng đột biến, đặc biệt trong các khung giờ cao điểm buổi tối. Trước tình hình đó, bên cạnh việc chỉ đạo các đơn vị bảo đảm đủ nhiên liệu cho phát điện, duy trì độ khả dụng cao của các tổ máy, đẩy nhanh tiến độ các công trình nguồn và lưới điện, Bộ Công Thương đã yêu cầu triển khai đồng bộ các chương trình quản lý nhu cầu điện và điều chỉnh phụ tải nhằm giảm áp lực cho hệ thống điện quốc gia.
Đây là một giải pháp có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Bởi trong điều kiện nhu cầu điện tăng cao, việc giảm được một phần phụ tải vào các giờ cao điểm có giá trị tương đương với việc bổ sung thêm một nguồn điện mới nhưng với chi phí thấp hơn rất nhiều. Thay vì phải đầu tư hàng tỷ USD để xây dựng các nguồn điện chỉ hoạt động trong vài giờ cao điểm, việc điều chỉnh phụ tải và sử dụng điện hợp lý giúp tối ưu hóa hệ thống hiện có, giảm chi phí và nâng cao độ an toàn vận hành.
Song song với đó, Bộ Công Thương đang thúc đẩy hàng loạt giải pháp. Từ hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn về hiệu suất năng lượng; mở rộng danh mục dán nhãn năng lượng; phát triển thị trường dịch vụ năng lượng; khuyến khích doanh nghiệp ESCO; thúc đẩy nghiên cứu công nghệ lưu trữ năng lượng, pin thế hệ mới và động cơ hiệu suất cao; cho tới việc đẩy mạnh sử dụng nhiên liệu sinh học E10 và phát triển điện mặt trời mái nhà.
Theo các chuyên gia, tiềm năng tiết kiệm năng lượng hiện nay trong khu vực sản xuất công nghiệp còn nhiều. Và những cải tiến về công nghệ, quản trị và số hóa có thể giúp doanh nghiệp tiết kiệm từ 30 - 40% lượng điện tiêu thụ, thậm chí cao hơn trong một số lĩnh vực.
Từ góc độ đó, sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả đang mở ra một không gian phát triển mới cho cộng đồng doanh nghiệp, trở thành yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh trong bối cảnh các thị trường xuất khẩu lớn ngày càng đặt ra những yêu cầu khắt khe về phát thải carbon, truy xuất nguồn gốc xanh và tiêu chuẩn môi trường.
Việc triển khai đồng bộ, quyết liệt các giải pháp quản lý nhu cầu và sử dụng điện tiết kiệm, hiệu quả trên phạm vi toàn quốc có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, góp phần giảm phụ tải đỉnh, nâng cao hiệu quả vận hành hệ thống điện, giảm áp lực đầu tư nguồn điện mới.
Hà Trang