Qua từng trang viết, biển được khắc họa với nhiều sắc thái và cung bậc cảm xúc-khi dịu dàng, tha thiết, lúc mạnh mẽ, dữ dội. Từ nguồn cảm hứng ấy, nhiều tác giả đã để lại những bài thơ giàu cảm xúc.
Tác giả Kim Cương (hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh) là một trong những cây bút có nhiều sáng tác ấn tượng về đề tài này, tiêu biểu là bài thơ “Đá Nhảy” viết về bãi biển Đá Nhảy-một thắng cảnh nổi tiếng với những khối đá được sóng biển bào mòn thành muôn hình vạn trạng. Ngay ở phần mở đầu, tác giả đã tạo nên một nghịch lý, gợi cho người đọc nhiều liên tưởng thú vị về vẻ đẹp vừa tĩnh lặng vừa sống động của biển và đá nơi đây: “Vẫn là/Đá Nhảy cả đời/Lung lay mặt biển/đá trôi bồng bềnh”.
Cái lạ ở đây là đá nhưng lại “nhảy” lại “lung lay” và cả “trôi bồng bềnh”. Nghe thì vô lý nhưng nếu bạn đã một lần đến Đá Nhảy, nhìn những đợt sóng dồn dập xô vào vách đá sẽ cảm nhận ý của tác giả khi mô tả vẻ đẹp thắng cảnh này.
Cùng lấy cảm hứng từ bãi biển Đá Nhảy, nhưng nhà thơ Nguyễn Tiến Nên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) lại có một cách cảm nhận rất riêng, lãng mạn và giàu chất trữ tình. Với bài thơ “Bức tranh chiều Đá Nhảy”, Nguyễn Tiến Nên đưa người đọc hòa vào một không gian đầy chất thơ của một buổi chiều hoàng hôn rực rỡ, nơi biển, ánh chiều và lòng người giao hòa trong những rung cảm sâu lắng.
Biển Đá Nhảy, nguồn cảm hứng của thơ ca - Ảnh Nh.V
Mở đầu bài thơ tác giả viết: “ai gom nắng sau cánh rừng/trang điểm đôi má chiều bừng đỏ” để rồi “tôi với đá cứ dùng dằng lần lữa” trước cảnh sắc quyến rũ của biển. Bức tranh chiều càng được tô điểm bằng những chuyển động khẽ khàng nhưng đầy gợi cảm của ngọn nồm “se sẽ vuốt ve” bờ cát, còn “dây muống biển” thì “mon men tình tự”... Trong cái không gian mộng ảo “Đá Nhảy chiều trần thế hay tiên” ấy, con người tìm thấy sự đồng điệu giữa vẻ đẹp của tạo hóa và vị đắm say của tình yêu lứa đôi.
Nếu tác giả Kim Cương và nhà thơ Nguyễn Tiến Nên nhìn biển với vẻ đẹp trữ tình, thơ mộng thì tác giả Lê Thúc Vũ, chủ nhiệm Câu lạc bộ người yêu thơ Mai Thủy (xã Trường Phú) lại phản ánh chân thực nhịp sống cùng bản lĩnh của con người miền biển trước những khắc nghiệt của thiên nhiên. Ở bài thơ “Bốn mùa với biển” tác giả đã sử dụng ngôn từ mộc mạc, chân chất để mô tả bốn mùa trong một năm của biển với những người con gắn cả cuộc đời cùng vị mặn của trùng khơi.
Nếu mùa xuân là bức tranh tinh khôi, êm dịu với “Dấu bàn chân mịn màng lên cát/Mát lạnh ngập tràn không gian...”, thì khi nắng vàng gọi hè về, biển lại khoác lên mình vẻ đẹp căng tràn sức sống: “Bờ mênh mang lời cỏ” và “Muống biển khoe khoang/sắc màu thủy chung”. Thế nhưng, biển không chỉ có những khoảnh khắc dịu dàng, thơ mộng. Khi thu sang, đông tới, thiên nhiên vùng biển trở nên dữ dội và khắc nghiệt: “Cát bay chích vào da thịt/Biển thần bí oai phong/Bãi ngang phơi bờ-thuyền tránh bão...”.
Chỉ với từ “chích”, Lê Thúc Vũ đã gợi lên cái khắc nghiệt đặc trưng của miền Trung mùa biển động. Cát không còn mềm mại mà theo gió quất vào mặt, vào da thịt, đau rát như kim châm. Biển cũng không còn vẻ hiền hòa quen thuộc mà trở nên bí ẩn, dữ dội. Hình ảnh “Bãi ngang phơi bờ-thuyền tránh bão” gợi cảnh vắng lặng, lo âu của làng chài trước những trận cuồng phong.
Sau những cơn bão lớn, mùa đông lạnh giá lại kéo về, biển động dữ dội khiến ngư dân không thể ra khơi. Trong những ngày ấy, họ trở về với công việc vá lưới, sửa ghe, lặng lẽ chuẩn bị cho những chuyến biển tiếp theo. Bài thơ không chỉ khắc họa cái khắc nghiệt của thiên nhiên mà còn làm nổi bật sự nhẫn nại, bền bỉ của con người miền biển trước bao thử thách của cuộc sống.
Thơ của miền cát trắng không chỉ giàu chất trữ tình mà còn mang nguồn năng lượng mạnh mẽ, thể hiện khát vọng vươn tới những chân trời tự do. Điều đó được thể hiện rõ trong bài thơ “Cánh chim ngược biển” của tác giả Phan Văn Chương (hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh).
Tác phẩm mở ra một không gian khoáng đạt, tươi đẹp với tiếng hót lảnh lót của họa mi, vành khuyên hòa cùng sắc trắng của cát và màu xanh của biển. Nổi bật hơn cả là hình ảnh những cánh chim căng ngực đón gió giữa biển khơi-biểu tượng cho tinh thần can trường, khí phách kiêu hãnh của người con miền cát luôn chủ động đối mặt với thử thách, biết biến sóng gió cuộc đời thành động lực để nuôi dưỡng, nâng đỡ những khát vọng bay xa.
Nếu trong “Cánh chim ngược biển”, Phan Văn Chương khắc họa biển bằng nguồn cảm hứng mạnh mẽ, khoáng đạt thì đến với “Nỗi buồn của biển” của cố nhà thơ Hải Kỳ, biển lại mang một sắc thái khác-sâu lắng, giàu nội tâm và chất chứa những nỗi niềm riêng.
“Nỗi buồn của biển” không đơn thuần là bài thơ tả cảnh biển mà ẩn sau những con sóng, những vì sao và khoảng trời xa vời vợi là cả một thế giới nội tâm đầy trăn trở, thổn thức bởi một tình yêu mãnh liệt và da diết. Bài thơ khép lại bằng một nỗi buồn nhẹ nhàng nhưng sâu kín: “Từ đó trong lặng lẽ/Biển in hình sao xa/Và thầm thì với sóng/Những gì chưa nói ra”.
Sau những cồn cào, thao thức, biển trở về với vẻ lặng im, nhưng đó không phải là sự lãng quên mà là cất giữ âm thầm. Biển vẫn mang trong mình hình bóng của những vì sao xa, vẫn lặng lẽ gửi những điều chưa thể giãi bày vào tiếng sóng.
Với ngôn từ mộc mạc nhưng giàu sức gợi, nhà thơ đã khéo léo mượn cái bao la của biển cả để diễn tả chiều sâu của lòng người, tạo nên một dòng cảm xúc liền mạch từ nhớ thương, khắc khoải đến chấp nhận lặng lẽ và thủy chung với một tình yêu chưa thể nói nên lời.
Qua các tác phẩm, ta thấy biển trong thơ của các tác giả Quảng Trị là một chỉnh thể sống động và vẹn toàn. Biển vừa là thắng cảnh thiên nhiên, niềm tự hào của quê hương vừa là người bạn tâm giao của những người thơ miền chân sóng...
Từ cái say chênh vênh trên vách đá của biển Đá Nhảy trong thơ Kim Cương, nét vẽ tình tự của Nguyễn Tiến Nên, khúc ca bốn mùa can trường của Lê Thúc Vũ, tư thế kiêu hãnh ngược gió của Phan Văn Chương cho đến tiếng thầm thì bao dung của cố nhà thơ Hải Kỳ, tất cả đã dệt nên một bức tranh văn học về biển đẹp và rất thơ. Bức tranh ấy dẫu mộc mạc, nhẹ nhàng nhưng chứa đựng cái tình nồng hậu, thủy chung của con người miền Trung luôn sống chan hòa với biển cả, giàu yêu thương và tình yêu son sắt với quê hương.
Nh.V