Sinh viên Đại học Quốc gia TP.HCM thực hành tại phòng thí nghiệm sinh học. Ảnh: Phương Lâm.
Hiện nay, thế giới và khu vực châu Á đang phải đối mặt với nhiều thách thức lớn như biến đổi khí hậu, dịch bệnh, già hóa dân số, suy giảm đa dạng sinh học, ô nhiễm môi trường và các dạng rủi ro an ninh phi truyền thống...
Những thách thức này không thể giải quyết bằng những cách tiếp cận cũ, mà đòi hỏi các lời giải dựa trên khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo. Trong đó, công nghệ sinh học đóng vai trò là một hạ tầng tri thức quan trọng, góp phần bảo đảm an ninh y tế, an ninh lương thực, an ninh môi trường, đồng thời mở ra không gian tăng trưởng mới cho nền kinh tế.
Đã có nhân lực nhưng còn hạn chế
Chỉ tính riêng trong lĩnh vực công nghệ sinh học, Đại học Quốc gia TP.HCM hiện có 65 giáo sư và phó giáo sư, cùng với 175 tiến sĩ. Ở giai đoạn 2020-2025, đơn vị đã đào tạo hơn 4.700 sinh viên đại học, hơn 1.200 thạc sĩ và 125 tiến sĩ.
Về số lượng công bố quốc tế, từ năm 2023, các công bố thuộc lĩnh vực công nghệ sinh học và các ngành liên quan chiếm khoảng 30% tổng công bố của Đại học Quốc gia TP.HCM.
Dù đạt được những cột mốc nhất định, Đại học Quốc gia TP.HCM vẫn thẳng thắn thừa nhận thị trường công nghệ sinh học của Việt Nam còn nhiều hạn chế.
GS.TS Nguyễn Thị Thanh Mai bày tỏ nỗi lo khi thị trường công nghệ sinh học của Việt Nam chưa đủ mạnh.
Tại hội thảo khoa học quốc gia Chiến lược phát triển công nghệ sinh học giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045, GS.TS Nguyễn Thị Thanh Mai, Phó giám đốc Đại học Quốc gia TP.HCM, cho biết thị trường công nghệ sinh học toàn cầu trong năm 2025 ước tính khoảng 1,8 nghìn tỷ USD và được dự báo sẽ tăng trưởng mạnh mẽ trong những năm tới.
Dự kiến đến năm 2030, con số sẽ tăng gấp đôi, tập trung vào tiến bộ trong nghiên cứu, ứng dụng trí tuệ nhân tạo, công nghệ chỉnh sửa gen, cùng với đó là chú trọng vào những giải pháp tiên tiến trong y tế, nông nghiệp và công nghiệp.
Thị trường toàn cầu tăng mạnh, nhưng thống kê cho thấy Việt Nam chỉ mới đạt khoảng 1,5 tỷ USD, tức chỉ chiếm chưa đến 0,1% thị trường thế giới. Trong khi đó, chỉ riêng khu vực châu Á, thị trường Trung Quốc gấp Việt Nam 100 lần, Nhật Bản khoảng 55 lần, Hàn Quốc là 28 lần và Ấn Độ khoảng 25 lần.
GS Nguyễn Thị Thanh Mai bày tỏ Đại học Quốc gia TP.HCM rất trăn trở với những con số nêu trên. Đơn vị đã có thế mạnh của hệ thống đại học liên ngành, có nguồn lực dồi dào về trí tuệ nhân tạo và công nghệ sinh học với hơn 250 chuyên gia, nhà khoa học trong các lĩnh vực này, nhưng việc chuyển giao thành sản phẩm thương mại còn rất hạn chế.
Nhận thức được vai trò và sứ mạng chuyển giao tri thức và kết nối với hệ sinh thái đổi mới sáng tạo của quốc gia và quốc tế, ĐHQG-HCM đã và đang rất chủ động trong tiến trình trở thành một cơ sở giáo dục đại học kiểu mẫu trong kết nối hợp tác 3 nhà.
"Chúng tôi kỳ vọng các bên liên quan sẽ cùng nhau hợp tác, tập trung nguồn lực để sánh kịp với các quốc gia trong khu vực, nếu không bây giờ, chắc chắn chúng ta sẽ lỡ nhịp với sự tăng trưởng thần tốc của lĩnh vực công nghệ sinh học", GS Mai nhấn mạnh.
Trước những trăn trở của Đại học Quốc gia TP.HCM, đại diện tập đoàn CT Group nêu rằng lĩnh vực công nghệ sinh học tại Việt Nam cần tập trung vào 5 trọng tâm, bao gồm:
Hợp tác R&D, chuyển giao công nghệ.
Hình thành doanh nghiệp công nghệ sinh học - spin-off.
Đào tạo, phát triển nguồn nhân lực cao.
Tham gia xây dựng chiến lược quốc gia.
Phát triển bản sao số quốc gia NDT 15, kinh tế không gian cận biên và máy tính lượng tử làm đòn bẩy công nghệ cho công nghệ sinh học Việt nam.
Cần khắc phục những điểm nghẽn
Từ những ý kiến đóng góp của các chuyên gia trong lĩnh vực công nghệ sinh học, ông Huỳnh Thành Đạt, Phó trưởng ban Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, nhận định Việt Nam đang đứng trước thời điểm mang tính chiến lược, đòi hỏi những thay đổi mạnh mẽ trong cách tiếp cận và tổ chức thực hiện.
Ông Huỳnh Thành Đạt nhấn mạnh những điểm trọng yếu cần khắc phục trong thời gian tới.
Qua đó, trong giai đoạn 2026-2030, mục tiêu hàng đầu là tạo ra bước chuyển thực sự với chiến lược công nghệ sinh học được xây dựng theo hệ thống lấy sản phẩm, thị trường và tiêu chuẩn chất lượng làm trung tâm.
Vì vậy, chuỗi giá trị từ nghiên cứu, làm chủ công nghệ lõi, phát triển sản phẩm, tổ chức thị trường đến quay trở lại đặt hàng nghiên cứu cần được thiết kế đồng bộ. Mọi định hướng và đột phá phải gắn liền với yêu cầu chuẩn mực về tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, an toàn và đạo đức sinh học nhằm bảo đảm sản phẩm công nghệ sinh học Việt Nam có thể tham gia thị trường khu vực và quốc tế một cách bền vững.
Ông Đạt cũng chỉ ra rằng để phát triển công nghệ sinh học, trước tiên cần nhận diện đầy đủ những điểm nghẽn đang cản trở sự phát triển của lĩnh vực này.
Những hạn chế về thể chế, thủ tục hành chính và cơ chế thử nghiệm, quản trị rủi ro vẫn chưa phù hợp với đặc thù ngành. Sự kết nối giữa Nhà nước, giới khoa học và doanh nghiệp chưa tạo thành chuỗi giá trị hoàn chỉnh. Hệ thống hạ tầng dùng chung như phòng thí nghiệm đạt chuẩn, trung tâm kiểm chuẩn, cơ sở thử nghiệm và dữ liệu sinh học còn phân tán, thiếu đồng bộ và chưa đáp ứng chuẩn mực quốc tế.
Hơn nữa, nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt là lực lượng có khả năng kết hợp giữa nghiên cứu, quản trị công nghệ và thương mại hóa sản phẩm, vẫn còn thiếu hụt. Trong khi đó, cơ chế tài chính cho các chương trình dài hạn, rủi ro cao nhưng có khả năng mang lại giá trị lớn trong tương lai vẫn chưa tương xứng với nhu cầu phát triển.
Phó trưởng ban Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương đồng thời nhấn mạnh nhiệm vụ trọng tâm là làm chủ một số công nghệ cốt lõi để phát triển sản phẩm “Make in Vietnam” trong các lĩnh vực có nhu cầu lớn như y dược, nông nghiệp công nghệ cao và môi trường.
Việc lựa chọn sản phẩm ưu tiên phải dựa trên nhu cầu xã hội, quy mô thị trường, khả năng chuẩn hóa và kiểm chứng, đồng thời có sự tham gia của doanh nghiệp ngay từ đầu.
Song song, thể chế cần được đổi mới theo hướng linh hoạt hơn, thí điểm cơ chế thử nghiệm và quản trị rủi ro (sandbox) để tạo không gian cho đổi mới sáng tạo nhưng vẫn bảo đảm an toàn cộng đồng.
Việc đầu tư cho hạ tầng nghiên cứu - phát triển cũng phải có trọng tâm, xây dựng các cụm liên hoàn từ nghiên cứu, thử nghiệm, kiểm chuẩn đến ươm tạo doanh nghiệp, gắn đào tạo với nhu cầu thực tiễn. Năng lực quản trị công nghệ, sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn kỹ thuật và pháp lý được xem là cấu phần bắt buộc trong đào tạo nhân lực công nghệ sinh học.
Thái An