Từ cuộc gặp gỡ đặc biệt tới người phụ nữ tiên phong đất Thần kinh

Từ cuộc gặp gỡ đặc biệt tới người phụ nữ tiên phong đất Thần kinh
2 giờ trướcBài gốc
Tháng 3.1918, Phạm Quỳnh và Phan Khôi rủ nhau lên đường vào Huế. Khi đó Phạm Quỳnh 26 tuổi, vừa trở thành chủ bút phần tiếng Việt của Nam Phong tạp chí. Còn Phan Khôi 31 tuổi. Họ tới Huế để tham dự lễ tế Nam Giao, ngoạn cảnh, thăm vài con người đặc sắc có thể coi như biểu tượng văn hóa vùng đất này. Và vì thế họ đã xin phép tới tư dinh nữ sử Đạm Phương.
Cuộc gặp này là dấu mốc trong mối quan hệ giữa ba nhà văn hóa lớn của Việt Nam thời thuộc địa. Kể từ đó họ cùng nhau hoạt động và giữ mối giao tình lâu dài tới tận thập niên 1940. Năm 1942, ba năm trước khi mất, Phạm Quỳnh từng viết lời giới thiệu một cuốn sách của Đạm Phương về giáo dục trẻ em với những lời khen ngợi đầy trân trọng. Còn Phan Khôi từng viết thư riêng thăm hỏi gửi Đạm Phương vào thời điểm u ám nhất trong đời bà những năm đầu thập niên 1930, khi bà tạm quy ẩn sau khi con trai đầu bị Pháp sát hại vì nghi tham gia đảng cách mạng và một năm sau thì chồng bà qua đời. Kế đó ông đã công bố thông tin trên báo chí để độc giả của bà biết rằng bà chỉ tạm quy ẩn chứ không hoàn toàn đầu hàng số phận. Bà sẽ tiếp tục trở lại trường văn trận bút với những tác phẩm thể hiện tư tưởng nữ quyền, nữ học và đấu tranh cho nhân quyền.
Sở dĩ hậu thế có thể biết rõ cuộc gặp gỡ này vì nó được miêu tả khá chi tiết trong bút ký Mười ngày ở Huế của Phạm Quỳnh, một thiên bút ký rất đặc sắc được đăng trên Nam Phong số 10, tháng 4.1918. Trong thiên bút ký này, Phạm Quỳnh kể lại những ấn tượng của ông về nữ sử Đạm Phương, về gia thế của bà. Bà vốn là cháu nội vua Minh Mạng (con gái của hoàng tử Nguyễn Phúc Miên Triện). Bà về làm dâu dòng tộc Nguyễn Khoa có hàng trăm năm làm quan lớn kể từ thời các chúa Nguyễn. Nữ sử khi đó 37 tuổi, là một phụ nữ hoàng gia thành đạt có 6 con và sống cùng phu quân là một vị quan với cuộc sống viên mãn. Là một phụ nữ có học vấn hàng cao nhất thời đó tại Huế, bà từng là thầy dạy các vị công chúa, công nữ và cung nữ trong cung. Bà đọc rất nhiều sách, biết chữ Hán, chữ quốc ngữ và tiếng Pháp, am hiểu Phật pháp.
Đạm Phương cùng chồng, ông Nguyễn Khoa Tùng. Như vợ mình, ông cũng là một nhà quý tộc và một học sĩ. Hai người từng viết một tập thơ chung. Cháu nội của họ chính là nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm. Nguồn ảnh: Tạp chí Sông Hương
Đạm Phương khi đó là một nữ trí thức đặc biệt của đất Thần kinh nhưng vẫn là con người trong khuôn mẫu của phụ nữ thời đó. Phạm Quỳnh đã ngỏ lời mời bà cộng tác với Nam Phong và bà vui vẻ nhận lời.
Câu chuyện ở đây có thể dẫn tới một vài cái kết.
Cái kết mà người ta dễ dự đoán nhất là Đạm Phương vì nể Phạm Quỳnh mà gửi cho Nam Phong vài bài thơ bằng chữ Nôm hay Hán ngữ của bà (Nam Phong có cả phần Hán ngữ do Nguyễn Bá Trác làm chủ bút). Và sau đó bà lại lui về với cuộc sống êm đềm của một phụ nữ hoàng gia. Chính Phạm Quỳnh đã trích dẫn 3 bài thơ của bà trong bút ký Mười ngày ở Huế.
Nhưng cái kết tiếp theo, khó đoán hơn mới xảy ra ngoài đời thực. Đó là Đạm Phương nữ sử chính thức bước ra khỏi khuôn khổ của đời sống thường nhật. Bà bước vào trường văn trận bút, trở thành nhà hoạt động xã hội hàng đầu trong số các phụ nữ thời đó với hàng trăm bài báo, với nhiều cuốn sách về nữ quyền, nữ học và giáo dục gia đình. Hơn nữa kể từ khi thành lập Nữ công Học hội tại Huế năm 1926, bà biến Huế thành một trung tâm hoạt động của phụ nữ tiến bộ và từ đó gây ảnh hưởng rộng rãi tới nữ giới cả nước.
Phụ nữ Huế, trước khi Đạm Phương đi vào hoạt động, nhìn chung là những phụ nữ của khuôn phép, mực thước, tề gia nội trợ, xuất giá tòng phu… Ngay cả bây giờ, ở không ít làng quê, phụ nữ Huế vẫn không được phép ngồi ăn uống trong gian thờ chính khi có giỗ chạp cúng kiếng, vì chỗ đó chỉ dành cho đàn ông.
Trong thời của Đạm Phương, tấm gương của phụ nữ là Nghi Thiên Chương Hoàng hậu Từ Dụ vốn được tôn kính vì là người đoan trang, nhàn nhã, nghiêm túc, cử chỉ độ lượng, có học thức. Và sau bà Từ Dụ là đức Từ Cung, phi thiếp của vua Khải Định, thân mẫu của hoàng đế Bảo Đại. Bà Từ Cung rất trọng đạo Phật và chú tâm thờ cúng các vị vua triều Nguyễn. Bà được coi là người có công lớn trong việc chấn hưng Phật giáo thời đó.
Ở một khía cạnh khác, phụ nữ Huế, bao gồm cả các phụ nữ hoàng gia cũng không ít người xuất gia. Như bà Trương Như Thị Tịnh tức là Đạm Thanh, chánh phi của vua Khải Định, vốn là người bạn thời trẻ của nữ sử Đạm Phương đã xin rời cung và xuất gia tại núi Động Sầm, phía Nam kinh thành Huế. Còn ngay trong gia đình quan Thượng thư đại thần Hồ Đắc Trung có hai cô con gái đi tu: một là quận chúa Hồ Thị Hạnh, sau này trở thành sư bà Diệu Không rất nổi tiếng; hai là quận chúa Hồ Thị Huyên, đã lấy chồng là Thượng thư Bộ Công Nguyễn Phúc Ưng Úy. Bà sinh hai con trai mà một chính là nhà bác học, giáo sư hóa học Nguyễn Phúc Bửu Hội. Nhưng sau đó bà Hồ Thị Huyên vẫn xuất gia đầu Phật và có pháp danh Diệu Huệ.
Trong một kinh đô cổ kính và giữa một cộng đồng phụ nữ truyền thống như vậy, Đạm Phương nữ sử đã tạo ra một cơn bão mang tính cách mạng. Việc đầu tiên là sáng lập Nữ công Học hội tháng 6.1926 và trở thành chủ tịch đầu tiên, cho lan rộng mô hình này ra một số vùng trong cả nước. Đây là hội đoàn dân sự đầu tiên của phụ nữ Việt Nam hiện đại. Mục đích của Nữ công Học hội khi đó tựu trung là giúp phụ nữ thành thạo việc nhà, làm mẹ, làm vợ tốt hơn, đồng thời cũng mạnh dạn học tập để tiến bộ và quan trọng nhất phải học một nghề để mưu sinh.
Trong diễn văn khai mạc lễ khánh thành Nữ công Học hội, bà đã trình bày cách thức hoạt động của Hội là làm sao bảo tồn cái hay, cái đẹp của văn hóa truyền thống, học hỏi và hấp thu tiến bộ của văn minh phương Tây. Sau đó bà mời chí sĩ Phan Bội Châu, chí sĩ Huỳnh Thúc Kháng tới thăm và diễn thuyết tại trụ sở. Phan Bội Châu thời điểm đó đã là “ông già Bến Ngự”, cụ tới thăm tặng Hội một cuốn sách và 100 đồng tán trợ. Còn Huỳnh Thúc Kháng khi đó là Viện trưởng Viện Dân biểu Trung kỳ cùng các đại diện nghị viên của Viện tới thăm Nữ công Học hội.
Đạm Phương (ngồi giữa, sau bàn) tại lễ khánh thành Nữ công Học hội Huế. Nguồn ảnh: Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Việt Nam
Nữ công Học hội khi đó quy tụ rất nhiều phụ nữ Huế tham gia hoạt động. Các sự kiện thường kỳ của Hội là mời diễn giả tới dạy phụ nữ học hỏi; mời các bà các cô khéo tay đến dạy nữ công gia chánh, dệt vải, nuôi tằm. Hội cũng tổ chức dạy thêm cho học sinh nữ. Hàng loạt cuốn sách đã được Nữ công Học hội in, phổ biến rộng rãi như Nữ quốc dân tu tri của cụ Phan Bội Châu (in 2 lần, tổng cộng 6.000 cuốn vào năm 1927), cuốn Nữ công thường thức tái bản tới lần thứ 2 năm 1929 và riêng lần tái bản in tới 10.000 cuốn. Và tạp chí Phụ nữ Tùng san được bà Đạm Phương cho thành lập năm 1929 như là tiếng nói riêng của Nữ công Học hội. Hội còn rất tích cực tham gia hoạt động từ thiện, giúp dân vùng lụt, giúp dân nghèo…
Đạm Phương trở thành ngọn lửa, thành tâm điểm thu hút phụ nữ đất Thần kinh. Kề vai sát cánh với bà là nhiều chị em ở nhiều lứa tuổi. Trẻ cỡ tuổi con gái bà Đạm Phương thì hoạt động tích cực nhất có thể kể quận chúa Hồ Thị Hạnh con Thượng thư Hồ Đắc Trung, hay cô Trần Thị Như Mân (cháu nội quan Phụ chánh đại thần Trần Tiễn Thành), các nữ sinh Đồng Khánh. Lớn tuổi thì có các mệnh phụ phu nhân vốn giỏi nữ công gia chánh như bà cụ Thượng nghệ Trần Tiễn phu nhân. Những quý bà như bà Thượng công Thái phu nhân và Thượng Thị vệ Nguyễn phu nhân thì tham gia chương trình và tán trợ tiền bạc cho hội.
Thậm chí Đạm Phương còn vận động được phụ nữ Huế đứng ra mở các hiệu buôn. Ngay cửa Thượng Tứ khi đó đã có tiệm buôn Hòa Thành do con dâu và con gái của Lễ Bộ Hiệp tá đại thần đương triều mở để học buôn bán làm ăn theo phong cách mới lạ của phương Tây. Cô Trần Thị Như Mân mở tiệm buôn Vân Hòa chuyên buôn bán các thứ bánh mứt và hàng thêu, dệt của chị em trong hội. Quận chúa Hồ Thị Hạnh mở cửa hàng Nam Hóa chuyên bán đồ nội, cổ động người Việt dùng hàng Việt. Cô trợ giáo canh nông Phạm Thị Nây tới Hội dạy chị em học sử dụng máy dệt kiểu mới do ông Hoàng Mạnh Dziêm ở Hà Đông tặng.
Cô Trần Thị Như Mân cho biết: “Hồi đó phụ nữ chúng tôi có biết chuyện hội họp là cái gì. Ngoài những khi tiếp xúc ở lớp học hay tại nơi làm việc ra chúng tôi chỉ biết sống trong gia đình. Việc nữ công được hiểu là công việc bếp núc, may vá thêu thùa mà bất cứ người con gái nào cũng phải biết để phụng dưỡng cha mẹ, chăm lo cho chồng con. Với việc thành lập Nữ công Học hội, khái niệm về nữ công cũng được mở rộng hơn. Chị em phụ nữ tham gia Hội là để học lấy một nghề. Công việc gia chánh không phải chỉ là việc trong gia đình mà còn nhằm nuôi sống bản thân. Muốn tham gia công việc xã hội, người phụ nữ trước hết phải biết sống tự lập về mặt kinh tế. Nhưng điều quan trọng nhất đối với chúng tôi là từ nay có một nơi để thường xuyên lui tới, gặp nhau cùng trao đổi những băn khoăn về thời cuộc, nói lên những hoài vọng của mình, được thoát ly phần nào khỏi cuộc sống chật hẹp của gia đình” (Với Đạm Phương nữ sử, Tạp chí Sông Hương online ngày 7.3.2011).
Đó là những gì mà các phụ nữ tiến bộ Huế, đứng đầu là nữ sử Đạm Phương đã làm được ở đất kinh kỳ 100 năm về trước. Họ đã chứng tỏ đô thị Huế khi đó thật sự là một trung tâm của văn minh, tiến bộ, của thúc đẩy phụ nữ học hỏi, tự lập, trưởng thành và hòa nhập thế giới hiện đại. Họ đã làm điều đó trong bối cảnh nước mất nhà tan, một cổ hai tròng. Như sau này ông Nguyễn Khoa Vy có làm đôi câu đối về bà Đạm Phương:
Văn tài nữ sử, sư phạm nữ công, e khi nữ giới yêu cầu, đi phó hội theo chân bà Trưng nữ.
Khí phách nam nhi, tinh hoa Nam Việt, nhớ thuở Nam Giao truy điệu, lên diễn đàn thay mặt cụ Sào Nam.
(Trần Thị Như Mân, nguồn đã dẫn).
Nguyễn Thị Bích Hậu
Nguồn Người Đô Thị : https://nguoidothi.net.vn/tu-cuoc-gap-go-dac-biet-toi-nguoi-phu-nu-tien-phong-dat-than-kinh-52597.html