Khi áp lực lên rừng từng là bài toán nan giải
Theo ông Đỗ Tiến Dũng, Trạm trưởng Trạm Kiểm lâm cơ động Vườn quốc gia Cúc Phương, những năm 1990 là giai đoạn công tác bảo vệ rừng gặp nhiều khó khăn. Khi đời sống người dân ven rừng còn thiếu thốn, việc vào rừng khai thác lâm sản và săn bắt động vật để mưu sinh vẫn diễn ra ở một số khu vực giáp ranh.
Trong bối cảnh đó, tình trạng khai thác trái phép đã từng diễn ra ở nhiều khu vực xung quanh Vườn quốc gia. “Người dân quanh rừng chủ yếu sống bằng nông nghiệp. Những lúc giáp vụ, không có việc làm, nhiều người đã vào rừng khai thác gỗ hoặc săn bắt động vật quý hiếm”, ông Tiến Dũng chia sẻ.
Những chuyến tuần tra thường xuyên là một phần quan trọng trong công tác bảo vệ rừng tại Cúc Phương. (Ảnh: Phùng Kha)
Áp lực lên tài nguyên rừng thời điểm đó không chỉ đến từ nhu cầu mưu sinh mà còn xuất phát từ hoạt động khai thác gỗ trái phép. Một trong những vụ việc khiến ông Tiến Dũng nhớ nhất là vụ khai thác trái phép một cây chò chỉ đường kính khoảng 1,2 mét vào năm 1999. Bốn đối tượng tham gia vụ việc sau đó đều bị xử lý theo quy định của pháp luật.
Theo ông Tiến Dũng, đây cũng là một trong những vụ án lớn cuối cùng liên quan đến khai thác gỗ mà ông trực tiếp tham gia xử lý. Từ những năm 2000 trở lại đây, tình trạng khai thác gỗ quy mô lớn tại Cúc Phương đã giảm mạnh nhờ sự thay đổi trong công tác quản lý, bảo vệ rừng cũng như những chuyển biến về điều kiện kinh tế - xã hội tại địa phương.
Màu xanh nguyên sinh của Cúc Phương hôm nay là kết quả của nhiều năm kết hợp giữa bảo vệ rừng và hỗ trợ cộng đồng địa phương. (Ảnh: Phùng Kha)
Giữ rừng bằng sinh kế và sự đồng hành của cộng đồng
Hiện nay, Vườn quốc gia Cúc Phương quản lý hơn 22.000 ha rừng với lực lượng bảo vệ rừng khoảng 50 người. Với lực lượng mỏng như vậy, việc bảo vệ toàn bộ diện tích rừng không thể chỉ dựa vào hoạt động tuần tra. Theo ông Tiến Dũng, sự tham gia của cộng đồng địa phương là yếu tố quan trọng giúp công tác bảo tồn đạt hiệu quả lâu dài.
Ông Đỗ Tiến Dũng chia sẻ về những thay đổi trong công tác quản lý và bảo vệ rừng tại Cúc Phương từ thập niên 1990 đến nay. (Ảnh: Phùng Kha)
Bên cạnh công tác tuần tra, kiểm soát, nhiều chính sách hỗ trợ người dân sống vùng ven đã được triển khai nhằm giảm áp lực khai thác tài nguyên rừng. Người dân được tham gia bảo vệ rừng và có thêm nguồn thu nhập từ chính công việc giữ rừng. Cùng với đó, các chương trình hỗ trợ cộng đồng vùng giáp ranh, đầu tư cơ sở hạ tầng và phát triển đời sống đã tạo thêm những lựa chọn kinh tế ổn định cho người dân địa phương.
Những thay đổi về sinh kế đã góp phần làm giảm đáng kể các hành vi xâm hại tài nguyên rừng. Khi đời sống được cải thiện và cơ hội việc làm ngày càng đa dạng, nhiều lao động địa phương thay vì phụ thuộc vào rừng đã chuyển sang làm việc tại các nhà máy, doanh nghiệp hoặc tham gia các hoạt động dịch vụ khác. Ông Tiến Dũng cho biết: "Người dân có việc làm ổn định hơn, có thêm nhiều cơ hội thu nhập ngoài rừng nên số trường hợp vi phạm đã giảm đáng kể so với trước đây".
Những nỗ lực bảo vệ rừng tại Cúc Phương được duy trì liên tục nhằm gìn giữ hệ sinh thái rừng nguyên sinh cho các thế hệ sau. (Ảnh: Phùng Kha)
Nhiều người dân địa phương hiện nay đã trở thành những người đồng hành cùng công tác bảo tồn. Cùng với các chính sách hỗ trợ, công tác tuyên truyền đã góp phần thay đổi nhận thức của người dân về giá trị của tài nguyên rừng. Các quy ước bảo vệ rừng được xây dựng ngay từ cấp thôn, bản, người dân vừa là đối tượng thụ hưởng chính sách, vừa tham gia giám sát và phát hiện các hành vi vi phạm.
Dù vẫn còn những thách thức trong công tác quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng, thực tế tại Cúc Phương cho thấy việc giữ rừng không thể chỉ dựa vào lực lượng kiểm lâm hay các biện pháp xử lý vi phạm. Khi kế sinh nhai của người dân được gắn với lợi ích từ rừng, cộng đồng địa phương không còn chỉ là đối tượng cần quản lý mà đã trở thành lực lượng đồng hành trong công tác bảo tồn. Đây được xem là yếu tố quan trọng giúp những cánh rừng nguyên sinh của Cúc Phương tiếp tục được gìn giữ trong tương lai.
Hương Ly