VKSND Tối cao đã ban hành công văn giải đáp vướng mắc về kiểm sát việc giải quyết vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình gửi đến các Viện Phúc thẩm 1,2,3; các VKSND tỉnh, thành phố trực thuộc TƯ và các VKSND khu vực.
Công văn này đã giải đáp 20 câu hỏi của VKSND các cấp về công tác giải quyết vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình.
Có phải chịu án phí đối với kỷ phần thừa kế được nhường?
Một trong những thắc mắc được nêu là: Tại công văn số 1083 ngày 26-3-2024 của VKSND Tối cao hướng dẫn "Nếu người được nhận kỷ phần thừa kế do người khác nhường cũng đồng thời được chia một suất thừa kế mà họ thuộc trường hợp được miễn án phí theo Nghị quyết số 326 thì họ được miễn án phí cả đối với phần họ được hưởng và phần họ được người khác nhường...".
Tuy nhiên, trong thực tiễn xét xử, có tòa án xác định người nhường vẫn phải chịu án phí, có tòa án xác định người nhận kỷ phần thừa kế do người khác nhường mặc dù thuộc trường hợp được miễn án phí vẫn phải chịu án phí đối với phần được nhường.
Những người thừa kế phải chịu án phí đối với kỷ phần thừa kế được nhường? Ảnh: VÕ HÀ
Về vấn đề này, VKSND Tối cao giải đáp, việc xác định người đã nhường kỷ phần thừa kế của mình vẫn phải chịu án phí, điểm a khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số 326 quy định: "Đối với vụ án liên quan đến chia tài sản chung, di sản thừa kế thì nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm được xác định như sau: Khi các bên đương sự không xác định được phần tài sản của mình hoặc mỗi người xác định định phần tài sản của mình trong khối tài sản chung, phần di sản của mình trong khối di sản thừa kế là khác nhau và có một trong các bên yêu cầu tòa án giải quyết chia tài sản chung, di sản thừa kế đó thì mỗi bên đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo mức tương ứng với giá trị phần tài sản mà họ được chia, được hưởng trong khối tài sản chung hoặc trong khối di sản thừa kế...".
Như vậy, trường hợp bản án đã tuyên rõ B là người được nhận kỷ phần thừa kế của A do A nhường (tặng cho) thì cần hiểu B mới là người được hưởng tài sản trong khối di sản thừa kế (và trên thực tế B là người được nhận phần này). Quyền và nghĩa vụ của B được thực hiện theo bản án của tòa án nên B có nghĩa vụ nộp án phí đối với kỷ phần được người khác nhường (tặng cho).
Nếu B thuộc trường hợp được miễn án phí, thì họ được miễn án phí đối với phần được hưởng và phần được người khác nhường (tặng cho), vì việc miễn án phí áp dụng cho đối tượng hưởng chứ không theo phần tài sản được hưởng.
Mặt khác, việc người thừa kế nhường kỷ phần thừa kế của mình cho người khác đã được tòa án công nhận và ghi trong phần quyết định của bản án, về bản chất là tòa án đã chia di sản theo pháp luật cho người được nhường (tặng cho). Trường hợp người thừa kế không nhận di sản và cũng không nhường cho ai, tòa án sẽ chia phần di sản này theo pháp luật và những người nhận phần di sản này nếu thuộc trường hợp được miễn án phí sẽ đương nhiên được miễn án phí.
Theo VKSND Tối cao, về việc một số tòa án xác định người nhận kỷ phần thừa kế do người khác nhường mặc dù thuộc trường hợp được miễn án phí vẫn phải chịu án phí đối với phần được nhường, VKS cần chủ động trao đổi, giải thích rõ với tòa án để áp dụng thống nhất.
Không cung cấp hồ sơ bệnh án, có được đòi bồi thường thiệt hại về sức khỏe?
Trong vụ án tranh chấp bồi thường thiệt hại về tài sản, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm bị xâm phạm, giữa nguyên đơn và bị đơn có sự việc xô xát, đánh nhau, Công an xã lập biên bản xem xét dấu vết thân thể cho nguyên đơn có sự tham gia của bác sỹ Trạm y tế xã. Ngoài biên bản này, nguyên đơn không cung cấp được hồ sơ bệnh án của cơ sở y tế. Tòa án chỉ căn cứ vào biên bản này buộc bị đơn phải bồi thường về sức khỏe cho nguyên đơn có đúng không?
Đối với câu hỏi này, VKSND Tối cao cho rằng, Khoản 1 Điều 590 BLDS quy định các thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm được bồi thường, gồm: Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại; Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; Thiệt hại khác do luật quy định...
Một phiên xét xử dân sự sơ thẩm tại TAND TP.HCM. Ảnh: TRẦN MINH
Các thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm nêu trên đã được quy định cụ thể, chi tiết tại Điều 7 Nghị quyết số 02 ngày 6-9-2022 của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLDS về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Điểm đ khoản 1 Điều 3 Nghị quyết số 02 quy định trách nhiệm chứng minh thiệt hại thuộc về người yêu cầu bồi thường.
Theo VKSND Tối cao, trong tình huống câu hỏi đưa ra, thông thường tại biên bản xem xét dấu vết thân thể cho một người sau khi bị đánh chỉ có nội dung mô tả thương tích hoặc tổn hại ban đầu do hành vi xâm phạm gây ra do quan sát bằng mắt thường hoặc khám sơ bộ, không thể hiện quá trình khám, xét nghiệm, phác đồ hoặc phương án điều trị, yêu cầu của bác sĩ... nên không đủ cơ sở xác định các loại chi phí được bồi thường theo quy định của pháp luật.
Trường hợp nguyên đơn không cung cấp được tài liệu nào khác chứng minh đã bỏ ra chi phí để khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh và các thiệt hại do sức khỏe bị xâm hại mà tòa án chỉ căn cứ vào biên bản xem xét dấu vết thân thể cho nguyên đơn mà buộc bị đơn bồi thường về sức khỏe là không đủ căn cứ.
Tòa án được tuyên thu hồi hay hủy giấy chứng nhận?
Một câu hỏi khác, loại vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất, có vụ tòa án tuyên "thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất", có vụ tòa án lại tuyên "hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất". Vậy cách tuyên nào là đúng?
Theo công văn giải đáp, Điều 15 BLDS quy định "Khi giải quyết yêu cầu bảo vệ quyền dân sự, Tòa án có quyền hủy quyết định cá biệt trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền". Khoản 1 Điều 34 BLTTDS quy định "Khi giải quyết vụ việc dân sự, Tòa án có quyền hủy quyết định cá biệt trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ việc dân sự mà Tòa án có nhiệm vụ giải quyết".
Ảnh minh họa
Theo các quy định trên thì Tòa án chỉ được tuyên "hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất". Giấy chứng nhận bị tòa án tuyên hủy thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền có trách nhiệm thu hồi theo điểm đ Khoản 2 Điều 152 Luật Đất đai năm 2024.
Điểm a khoản 3 Điều 152 Luật Đất đai quy định "Trường hợp Tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai có bản án, quyết định có hiệu lực thi hành, trong đó có kết luận về việc thu hồi giấy chứng nhận đã cấp thì việc thu hồi giấy chứng nhận đã cấp được thực hiện theo bản án, quyết định đó".
Nghĩa là, Tòa án chỉ kết luận chứ không tuyên thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà việc thu hồi giấy chứng nhận phải do cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận thực hiện theo kết luận tại bản án.
SONG MAI