Dấu xưa trên miền đất hát
Kẻ Đòi từ lâu vẫn được người dân quen gọi bằng cái tên thân thuộc: Xóm Hát. Không ai còn nhớ chính xác tên gọi ấy xuất hiện từ bao giờ, chỉ biết rằng qua bao thế hệ, tiếng hát đã trở thành một phần máu thịt của vùng quê này. Ở Kẻ Đòi, dường như trong mỗi mái nhà đều có người biết hát tuồng, mê dân ca, chơi nhạc cụ dân tộc hay tham gia đội văn nghệ. Bởi thế mà dân gian từng truyền tụng câu ca: “Đêm nằm nghe trống Kẻ Đòi/Nghe chuông Kẻ Hạc, nghe còi Kẻ Lau”.
Theo ông Hoàng Thanh Mai, nguyên Trưởng phòng Văn hóa huyện Bố Trạch (cũ), vùng đất này mang nhiều dấu tích văn hóa đặc biệt. “Người dân nơi đây lưu truyền rằng, vào thời Nguyễn Huệ hành quân ra Bắc, đoàn quân Tây Sơn từng dừng chân ở vùng này. Có thể chính những người lính có gốc gác từ quê hương Bình Định (cũ) đã mang theo nghệ thuật hát tuồng bội đến Kẻ Đòi. Rồi qua thời gian, loại hình nghệ thuật đó được người dân tiếp nhận, gìn giữ và neo lại cho đến hôm nay”, ông Mai cho biết.
Thế hệ trẻ của Câu lạc bộ đàn và hát dân ca xã Đông Trạch đang nối tiếp truyền thống của quê hương - Ảnh: D.H
Giả thiết ấy chưa có tư liệu lịch sử để khẳng định hoàn toàn nhưng trong đời sống văn hóa của người dân Kẻ Đòi, hát tuồng bội thực sự đã trở thành một phần căn cốt. Những người cao tuổi trong làng kể rằng, ngày trước, mỗi dịp lễ hội hay nông nhàn, cả làng lại quây quần bên sân đình xem hát. Tiếng trống chầu, tiếng đàn nhị, tiếng phách vang lên giữa đêm quê tĩnh lặng. Người diễn thuộc từng tích tuồng, từng động tác. Người xem thuộc cả lời hát.
Cụ Trần Minh Hộ (90 tuổi), một trong những bậc cao niên am hiểu tường tận về nghệ thuật hát tuồng bội ở Kẻ Đòi, chậm rãi kể rằng thời kỳ hưng thịnh nhất của làng hát là trước Cách mạng tháng Tám và những năm kháng chiến chống Mỹ. Bom đạn chiến tranh ác liệt là thế, nhưng tiếng hát nơi xóm nhỏ chưa bao giờ tắt.
“Ngày đó cực lắm nhưng ai cũng mê hát. Ban đêm, bà con lấy hai vỏ ống đạn làm chân đèn, thắp dầu lên để lấy ánh sáng cho diễn viên biểu diễn. Hễ nghe tiếng máy bay Mỹ là cả xóm lập tức tắt đèn, im lặng. Khi máy bay đi qua, đèn lại được thắp lên, sân tuồng lại sáng rực tiếng trống, tiếng hát…”, cụ Hộ nhớ lại.
Tiếng hát đi qua chiến tranh
Trong ký ức của nhiều người, xóm Hát còn là miền quê nghĩa tình của những năm tháng chiến tranh ác liệt. Những năm 1965, khi giặc Mỹ đánh phá miền Bắc, nhiều gia đình ở vùng biển Lý Hòa phải sơ tán lên Phú Trạch. Người dân Kẻ Đòi đã cưu mang, đùm bọc bà con như ruột thịt, chia nhau từng củ sắn, lon gạo giữa thời bom đạn. Giữa những ngày khốn khó ấy, tiếng hát vẫn vang lên hào sảng. Đó là những đêm bà con quây quần bên ngọn đèn dầu nghe đội văn nghệ cất câu dân ca. Là lời ru của những bà mẹ giữa vùng sơ tán. Là tiếng hát át tiếng bom đạn để con người giữ lấy niềm tin sống.
Có người đến tận bây giờ vẫn nhớ như in câu hát của một người mẹ già ở xóm Hát tiễn bà con trở về quê cũ sau những năm sơ tán: “Bạn về nhớ bạn chơi vơi/Nhớ chiếu bạn trải, nhớ nơi bạn nằm…”. Tiếng hát ở Kẻ Đòi vì thế không chỉ là nghệ thuật. Đó còn là tình người, là ký ức của một thời gian khó mà nghĩa tình.
Hôm nay trở lại Đông Duyệt 1, khó có thể nhận ra xóm nhỏ năm xưa. Những con đường đất hẹp đã được thay bằng đường bê tông rộng rãi. Nhà cửa khang trang mọc lên san sát. Diện mạo nông thôn mới làm vùng quê này đổi thay từng ngày. Nhưng điều đáng quý nhất là người dân nơi đây vẫn giữ được tình yêu với dân ca truyền thống nên trong ánh mắt họ vẫn rạng ngời, dẫu đi qua nhiều khó khăn, bão gió. Có những gia đình nhiều đời theo nghiệp ca hát. Như gia đình cụ Nguyễn Duy Sung có đến 4 người con và một người cháu theo nghệ thuật chuyên nghiệp.
Từ một làng quê nhỏ, nhiều người con của Kẻ Đòi đã bước lên sân khấu lớn, trở thành diễn viên, nghệ sĩ, cán bộ hoạt động văn hóa nghệ thuật. Nhưng dù đi đâu, họ vẫn mang theo chất giọng dân ca đậm vị quê nhà.
Ra đời từ những năm 90 thế kỷ trước, câu lạc bộ (CLB) đàn và hát dân ca xã Đông Trạch vốn xuất thân từ xóm hát Kẻ Đòi. Trải qua bao biến chuyển của thời gian, đi qua những gian khó, CLB vẫn bền bỉ sống và phát triển mạnh mẽ cho đến hôm nay.
Bà Phạm Thị Hồng Phương, Chủ nhiệm CLB cho biết, CLB hiện có 29 thành viên, người cao tuổi nhất đã 92 tuổi nhưng vẫn tích cực tham gia sinh hoạt, biểu diễn. Nhiều năm qua, CLB không chỉ duy trì hoạt động thường xuyên mà còn trực tiếp tham gia truyền dạy đàn, hát dân ca cho học sinh trên địa bàn, góp mặt trong nhiều chương trình văn nghệ của địa phương. “Điều đáng mừng là ngày càng có nhiều học sinh quan tâm đến dân ca, chủ động tham gia các CLB, được các nghệ nhân hướng dẫn trực tiếp. Từ đó, các em dần hình thành tình yêu với văn hóa quê hương, góp phần giữ cho di sản không bị đứt gãy trong quá trình truyền nối”, bà Phương chia sẻ.
Ai nhớ, ai quên?
Bà Phạm Thị Hồng Phương kể về những nghệ nhân hát tuồng một thời của Kẻ Đòi với ánh mắt đầy tiếc nuối. Trong ký ức của bà, cụ Phạm Hoạt vẫn là một trong những người “giữ hồn” cho xóm Hát bằng tất cả sự tận tụy và đau đáu với nghề. Ngày ấy, cụ không ngồi chờ người trẻ tìm đến học hát mà lặng lẽ đi tìm người kế tục. Hễ nghe trong làng có ai giọng sáng, biết ngân nga dân ca hay chỉ đơn giản mê đứng xem hát tuồng, cụ lại tìm đến tận nhà để thuyết phục gia đình cho theo học.
Sau những buổi làm đồng, khi màn đêm buông xuống trên xóm nhỏ, cụ lại gọi đám trẻ tụm về sân nhà, kiên nhẫn chỉ từng câu hát, từng nhịp phách, từng cái vuốt râu, trợn mắt, đảo bộ trong tuồng cổ. Những bài học ngày ấy chẳng có giáo án, cũng không sân khấu sáng đèn, chỉ có tiếng trống nhịp đều trong đêm và sự say mê của những con người yêu nghệ thuật đến tận cùng.
Từ những buổi tập đơn sơ ấy, có người sau này trở thành diễn viên chuyên nghiệp, có người chỉ giữ tiếng hát cho hội làng mỗi mùa lễ hội. Nhưng với họ, ký ức về những đêm theo cụ Phạm Hoạt học hát vẫn là một phần không thể quên của đời mình. Bà Phương bảo, điều mà những nghệ nhân xưa lo nhất không phải cuộc sống nghèo khó, mà là một ngày tiếng trống tuồng không còn vang lên ở Kẻ Đòi. “Các cụ thường nói, mất tiếng trống tuồng là xóm Hát mất hồn…”, bà nghẹn giọng.
Rồi bà lặng đi một lúc lâu khi nhắc về những nghệ nhân cũ như cụ Phạm Hoạt, cụ Nguyễn Duy Sung… nay đều đã khuất núi. “Thế hệ chúng tôi thực ra chỉ giữ được phần nào câu hát thôi. Còn những ngón nghề biểu diễn, thần thái, điệu bộ của tuồng cổ mà các cụ từng thể hiện thì không ai còn làm được như trước nữa”, bà Phương kể.
Nỗi day dứt ấy giờ vẫn hiện hữu trong mỗi đêm sinh hoạt văn nghệ ở xóm Hát. Khi lớp nghệ nhân già lần lượt rời xa cõi tạm, người làng càng thấm thía rằng, giữ được một làn điệu dân ca đã khó, giữ được hồn cốt của tuồng bội còn khó hơn nhiều. Bởi vậy, với người Kẻ Đòi hôm nay, giữ gìn nghệ thuật truyền thống không chỉ là bảo tồn một loại hình văn hóa dân gian, mà còn là giữ lấy căn cước của quê hương.
Diệu Hương