Như PLO đã đưa tin, phiên tòa xét xử sơ thẩm 22 bị cáo trong vụ án xảy ra tại Tập đoàn Công nghiệp cao su Việt Nam và các đơn vị liên quan đã khép lại. Hình phạt của các bị cáo trong vụ án đã được HĐXX đánh giá và có độ phân hóa cao, dựa trên nguyên tắc nghiêm trị người chủ mưu, cầm đầu, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội; khoan hồng đối với người ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại gây ra.
HĐXX căn cứ tính chất, mức độ phạm tội, số lượng các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng, đã tuyên 10 bị cáo được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 BLHS. Đáng chú ý trong vụ án này bị cáo Nguyễn Thị Như Loan (cựu Chủ tịch HĐQT Công ty Quốc Cường Gia Lai) bên cạnh ghi nhận nhiều tình tiết giảm nhẹ theo quy định thì HĐXX đã vận dụng tinh thần của Nghị quyết 68/NQ-TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân để xem xét khi quyết định hình phạt.
Đây có thể được xem là một trong những trường hợp đầu tiên cơ quan tố tụng vận dụng linh hoạt Nghị quyết 68 vào trong hoạt động tố tụng. Để hiểu rõ hơn về vấn đề này, Pháp Luật TP.HCM xin giới thiệu góc nhìn, quan điểm của những chuyên gia trong lĩnh vực pháp luật.
Cách tiếp cận mới trong thực thi pháp luật
TS-LS Nguyễn Thị Kim Vinh, nguyên thẩm phán TAND Tối cao, cho biết áp dụng Nghị quyết 68 là sự đổi mới từ tư duy đến thực tiễn. Đây là cách tiếp cận mới trong thực thi pháp luật, không chỉ dừng lại ở định hướng chính sách mà đã bắt đầu đi vào thực tiễn một cách rõ nét. Từ những vụ án cụ thể đã được xét xử gần đây, có thể thấy tinh thần của Nghị quyết 68 đang được các cơ quan tiến hành tố tụng vận dụng linh hoạt, thận trọng nhưng không kém phần quyết liệt.
TS-LS Nguyễn Thị Kim Vinh, nguyên thẩm phán TAND Tối cao
Việc HĐXX cân nhắc áp dụng tinh thần của Nghị quyết 68 để giảm nhẹ hình phạt trong một số trường hợp cụ thể, điển hình như tại phiên tòa vừa qua trong lĩnh vực kinh tế có thể xem là những bước đi đầu tiên, mang tính thử nghiệm nhưng có ý nghĩa rất lớn, cho thấy sự chuyển động thực chất của hệ thống tư pháp trong việc cụ thể hóa chủ trương của Đảng.
Cách tiếp cận này cần được nhìn nhận như một bước đột phá. Trong nhiều năm, khoảng cách giữa chính sách và thực tiễn thi hành pháp luật luôn là một vấn đề. Việc mạnh dạn đưa tinh thần của Nghị quyết 68 vào xét xử không chỉ thể hiện sự chủ động của cơ quan tư pháp mà còn góp phần làm sống động các định hướng chính trị trong đời sống pháp lý.
Tuy nhiên, đi kèm với đó là những băn khoăn về nguy cơ áp dụng không đồng đều. Đây là những lo ngại có cơ sở, nhưng không nên vì thế mà làm chùn bước quá trình đổi mới. Hệ thống pháp luật hiện hành cùng với các thiết chế giám sát – từ kiểm sát hoạt động tư pháp, giám sát của cơ quan dân cử đến vai trò của báo chí và xã hội – đã và đang tạo ra những “hàng rào kỹ thuật” cần thiết để kiểm soát rủi ro này.
Vấn đề cốt lõi hiện nay không phải là có nên áp dụng hay không, mà là áp dụng như thế nào để bảo đảm minh bạch và đúng đối tượng. Quá trình vận dụng Nghị quyết 68 trong xét xử cần được công khai về tiêu chí, lập luận và căn cứ pháp lý, để tất cả các chủ thể liên quan – từ cơ quan tiến hành tố tụng, luật sư đến dư luận xã hội – đều có thể theo dõi và giám sát. Chỉ khi đó, việc áp dụng mới thực sự thuyết phục và tạo được niềm tin.
Đồng thời, cũng cần xác lập rõ nguyên tắc: những trường hợp được hưởng chính sách phải là những chủ thể thực sự đáp ứng điều kiện, còn các trường hợp lợi dụng hoặc áp dụng sai phải được phát hiện và xử lý kịp thời. Cơ chế “tuýt còi” phải đi cùng với cơ chế “khuyến khích”, tạo nên sự cân bằng giữa đổi mới và kiểm soát.
Tinh thần xuyên suốt cần được khẳng định là ủng hộ vì lợi ích chung. Nghị quyết 68 hướng đến việc tháo gỡ những rào cản không cần thiết, tạo môi trường thuận lợi hơn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh và đổi mới sáng tạo. Khi tinh thần này được phản ánh trong hoạt động xét xử, nó không chỉ tác động đến từng vụ án cụ thể mà còn gửi đi một thông điệp mạnh mẽ tới cộng đồng doanh nghiệp: Nhà nước không chỉ quản lý mà còn đồng hành tạo điều kiện cho doanh nghiệp có niềm tin vào bệ đỡ pháp lý trong hoạt động kinh tế.
Ở góc độ đó, việc áp dụng Nghị quyết 68 trong xét xử là biểu hiện của một tư duy quản trị mới; pháp luật là nền tảng hỗ trợ phát triển. Nếu được triển khai một cách minh bạch, nhất quán và có kiểm soát, đây sẽ là một bước tiến quan trọng, góp phần củng cố niềm tin của doanh nhân vào môi trường pháp lý và vào sự bảo vệ của hệ thống tư pháp.
Nói cách khác, thành công của việc áp dụng Nghị quyết 68 sẽ không chỉ được đo bằng số lượng vụ án được xem xét theo tinh thần này, mà quan trọng hơn là bằng mức độ mà cộng đồng xã hội cảm nhận được sự thay đổi – một sự thay đổi thực chất, rõ ràng và đáng tin cậy.
3 vấn đề then chốt khi vận dụng Nghị quyết 68 vào xét xử, lượng hình
LS Trương Thanh Đức (Đoàn Luật sư TP Hà Nội, trọng tài viên Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam (VIAC), người từng tham gia bào chữa trong nhiều đại án, chứng kiến thực tiễn áp dụng pháp luật trong nhiều vụ án kinh tế đồng tình với đường lối xử lý hình sự có vận dụng tinh thần của Nghị quyết 68.
Tuy nhiên, luật sư Đức đề nghị để công bằng, hợp lý và minh bạch hơn thì cần giải quyết ngay 3 vấn đề:
Thứ nhất, cần áp dụng cho mọi đối tượng, đánh giá trên hai tiêu chí chính là mức độ nguy hiểm cho xã hội và các tình tiết giảm nhẹ, trong đó có việc khắc phục hậu quả và đóng góp cho xã hội.
Luật sư Trương Thanh Đức, Đoàn Luật sư TP Hà Nội
Tuy nhiên, yếu tố quyết định phải là mức độ nguy hiểm, chứ bồi thường, đóng góp và rất nhiều tình tiết giảm nhẹ khác thì chỉ người làm ăn lớn, thành công, giàu có mới có nhiều khả năng được hưởng, mà tội của họ thì lại xuất phát từ chính những cái đó.
Thứ hai, cần sửa gấp nguyên tắc và một số quy định cụ thể về áp dụng hình phạt của Bộ luật Hình sự, để bảo đảm thượng tôn pháp luật, có cơ sở pháp lý rõ ràng và áp dụng thống nhất, tránh tình trạng quá khác biệt giữa các vụ án và các bị cáo, dù pháp luật là một nhưng kết quả lại "thiên biến vạn hóa".
Chẳng hạn phải sửa khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự với quy định hiện hành là chỉ được áp dụng một hình phạt nhẹ hơn trong khung hình phạt liền kề. Đặc biệt, để từ người dân cho đến bị cáo, bị hại, kể cả người chấp pháp đều tâm phục, khẩu phục thì cần quy định rất rõ về các trường hợp mà khung hình phạt bị khởi tố, điều tra, truy tố ở mức cao nhất, nhưng lại được xét xử ở mức thấp nhất, để được hưởng án treo, tức đồng thời được hưởng tối đa mọi sự khoan hồng, đặc ân, ngang với đại xá, đặc xá ngay từ khi tuyên án.
Tiếp đến là cần phải làm rõ điều những điều kiện này trong luật, để từ người nghiêm túc tuân thủ đến kẻ bất tuân luật lệ đều biết mà cân nhắc hành động. Sòng phẳng hơn thì phải quy định rõ nhiều hành vi chỉ cần áp dụng hình phạt tiền thay cho tù tội, thậm chí loại trừ khỏi tội hình sự mà chỉ cần xử phạt hành chính.
Thứ ba, cần miễn giảm án cho tất cả các trường hợp tương tự đang chấp hành án, để bảo đảm sự công bằng và tính nhân đạo của pháp luật trong bối cảnh mới. Và những nguyên tắc nhân đạo, công bằng trên không chỉ áp dụng cho các tội về kinh tế, mà cần mở rộng hơn đối với nhiều loại tội khác.
Lập luận của tòa án khi áp dụng Nghị quyết 68
Tòa án căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án và trình bày của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa thể hiện Công ty Cổ phần Quốc Cường Gia Lai là một thành phần kinh tế tư nhân, đóng góp lớn về thuế, ngân sách nhà nước, thực hiện nhiều hoạt động kinh doanh trong và ngoài nước, tạo việc làm ổn định cho hàng nghìn người lao động, tham gia nhiều hoạt động thiện nguyện, đảm bảo an sinh xã hội được chính quyền nhiều địa phương ghi nhận.
Đặc biệt trong vụ án này xét bối cảnh, nguyên nhân, động cơ phạm tội cho thấy bị cáo trực tiếp hưởng lợi số tiền lớn nhưng đã chủ động nộp lại toàn bộ số tiền hưởng lợi để khắc phục toàn bộ hậu quả thuộc trách nhiệm của bị cáo, đảm bảo thu hồi đầy đủ tài sản của nhà nước bị thất thoát trong vụ án.
Sau khi xem xét, đánh giá toàn bộ hành vi, tính chất, mức độ, đặc biệt là yếu tố khắc phục toàn bộ hậu quả của bị cáo và vai trò của bị cáo tại Công ty Cổ phần Quốc Cường Gia Lai, HĐXX vận dụng tinh thần tại mục 2.3 phần III của Nghị quyết 68/NQ-TW của Bộ Chính trị ngày 04/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân có nội dung: "Trường hợp đến mức xử lý hình sự thì ưu tiên các biện pháp khắc phục hậu quả kinh tế trước và là căn cứ quan trọng để xem xét các biện pháp xử lý tiếp theo”.
HỮU ĐĂNG
SONG MAI