Tết Nhâm Tý năm 1912 là Tết đầu tiên xa quê, là Tết lênh đênh trên tàu vòng quanh Châu Phi để rồi cuối năm Bác dừng chân ở thành phố Boston của Hoa Kỳ. Tết thứ hai, Bác cô đơn một mình trong niềm vui tìm được bản Tuyên ngôn đầu tiên của nước Mỹ nói rằng: “Con người sinh ra có quyền được làm người, được tự do bình đẳng”. Điều đó Bác đã nhập tâm và năm 1945 trong Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam, Bác đã nhắc lại với đồng bào cả nước: “Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng, tạo hóa cho họ những quyền không thể xâm phạm. Trong những quyền ấy có quyền được sống, quyền được tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.
Có thể nói, những mùa Xuân kế tiếp đó là những cái Tết lặng lẽ, vất vả ở nước Anh. Đó là những ngày Tết Bác bên những pho sách kinh điển của các tác giả nổi tiếng như: Shakespeare, Dickens, Johnathan, Swist… Khi người Châu Âu đón năm mới thì Bác tìm được những tư tưởng về khai hóa, về giải phóng con người. Và sau Tết 1917, chiến tranh tạm lắng xuống, Bác đã trở lại Paris sau 6 cái Tết cô đơn vất vả ở Hoa Kỳ và ở Anh quốc.
Bác Hồ trong một khoảnh khắc đời thường, luôn giản dị, gần gũi
Chẵn 6 cái Tết Bác ở trên đất Pháp. Có 3 cái Tết sống chung với nhà yêu nước Phan Châu Trinh, Luật sư Phan Văn Trường. Được sống trong tình người Việt Nam xa quê, Tết đến vẫn có bánh tét, bánh chưng, thịt mỡ, dưa hành, nhưng vẫn trong bầu trời ngạt thở của chủ nghĩa thực dân, vẫn sống trong cảnh bị mật thám đeo bám, phải sống bằng ý chí và niềm tin!
Đó là những năm 1919, tại căn nhà số 6 trong con đường nhỏ vắng Villa des Gobelins, Bác đã cặm cụi viết nên 8 điểm yêu sách của Nhân dân ta bằng sự góp ý trí tuệ của Phó bảng Phan Châu Trinh và chuyển ngữ ra tiếng Pháp của Luật sư Phan Văn Trường. Từ căn nhà này, Bác đã mang đến lâu đài Versailles nổi tiếng của nước Pháp để gửi đến nguyên thủ các cường quốc đang họp ở đây, tạo nên quả bom chính trị nổ tung giữa Thủ đô của chính quốc đang xâm chiếm nước mình. Và cũng tại căn nhà số 6 này, mùa Xuân năm 1920, sau những ngày Tết Canh Thân vui vẻ với nhóm những người yêu nước, trong đó ngoài hai vị cao niên là Phan Châu Trinh và Phan Văn Trường còn có hai thanh niên đầy nhiệt huyết Nguyễn An Ninh, Nguyễn Thế Truyền. Năm Canh Thân đã cho Bác hai niềm vui lớn, là năm người đọc được luận cương của Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa. Bác đã đọc đi đọc lại 12 điểm của Lênin và trong căn phòng nhỏ bé đó, một mình đứng lên reo to trong nước mắt mừng vui: “Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!”
Và tối thứ Bảy đó, Bác cùng nhóm Ngũ Long yêu nước đã mở Champagne để ăn mừng. Dù là tháng 7 và không có lễ lộc gì, Phan Văn Trường vẫn nói:
- Tôi thấy anh Nguyễn đã tìm đường chân lý mới, ly rượu này xin chúc mừng.
Với Bác, đó là một ngày còn vui hơn ngày Tết. Và từ ngày này, Bác bước sang ngã rẽ mới, chọn cho mình con đường đi theo Lênin và cuối năm 1920 trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, là người Việt Nam đầu tiên trở thành đảng viên Cộng sản ở xứ người.
Giữa năm 1923, Bác sang Liên Xô. Tết năm 1924, Tết Giáp Tý dù chỉ một mình là người Việt Nam, nhưng Bác thấy không cô đơn vì lần đầu tiên trong đời Bác được đón Tết trong bầu trời Xô Viết độc lập tự do, được sống giữa những anh em đồng chí Cộng sản. Sau 12 năm, trọn một con giáp, Bác đã tìm được con đường cứu nước. Biết phong tục của Á Đông, các bạn Liên Xô, các bạn Quốc tế Cộng sản đã có bữa cơm, có rượu để chúc năm mới các đồng chí Việt Nam và Trung Quốc. Đây cũng là mùa Xuân định hình con đường trở về đất nước để cứu nước của Bác.
Tết những năm 1925 đến 1927, Bác đã về Quảng Đông lập nên và lãnh đạo tổ chức “Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội”, tiền thân của Đảng Cách mạng Việt Nam. Ba mùa Xuân đó, Bác đã thực sự trực tiếp lãnh đạo, trực tiếp truyền dạy cho nhiều lớp cán bộ lãnh đạo của đất nước.
Mùa Xuân Đinh Mão 1927, trong không khí bầu trời tự do của thể chế do Tôn Trung Sơn lãnh đạo. Một cái Tết ấm cúng đã đến với Bác, đó là cái Tết vui nhất sau 16 năm ra đi tìm đường cứu nước. Vì Bác đón Tết giữa những hạt giống đỏ của ba Kỳ: Trung, Nam, Bắc. Đó là cái Tết đầy khí thế cách mạng và đầy tình anh em đồng chí.
Mùa Xuân năm 1930, cũng là mùa Xuân đặc biệt đối với Bác, Bác từ Nga qua Đức, qua Italia để về Thái Lan, rồi từ Thái Lan qua Hồng Kông. Tết Canh Ngọ đó Bác đã khai mạc hội nghị để thống nhất các tổ chức Đảng ở Việt Nam vào ngày mồng 5 Tết (lịch Trung Quốc là 6 tháng Giêng). Và suốt cả tháng Giêng đó, giữa lúc người Hồng Kông nhộn nhịp lễ Tết thì Bác chủ trì hội nghị để thành lập Đảng Cộng sản. Mãi đến ngày 07/02, hơn một tháng hội nghị mới kết thúc, Bác tổ chức bữa tiệc nhỏ ở một quán trên đường Tam Kung để mừng thành công của hội nghị. Trong lời khai tiệc, Bác nói:
Bác Hồ và Nguyên soái Chu Đức - Phó Chủ tịch nước CHND Trung Hoa (Ảnh chụp năm 1950 tại Trung Quốc)
- Hôm nay chúng ta ăn Tết, đây là cái Tết lịch sử, dân tộc ta, nước ta từ nay đã có Đảng Cộng sản để lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Mỗi chúng ta hãy nhớ mùa Xuân đặc biệt này.
Sau đó là 3 cái Tết Bác bị nhốt trong nhà tù đế quốc. Và 5 cái Tết ở Liên Xô để đợi chờ, 5 mùa Xuân trôi qua, thời gian “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” trong Bác. Bác đã dành thì giờ đọc, học để làm luận án tiến sĩ. Cho đến Xuân Kỹ Mão 1939 Bác mới được Quốc tế Cộng sản phân công trở về lãnh đạo Cách mạng Việt Nam. Người đã đi xuyên Trung Quốc về tới Vân Nam và liên lạc được với Ban Hải ngoại của Quốc tế Cộng sản.
Mùa Xuân Canh Thìn 1940, là mùa Xuân lòng Bác rộn vui vì Bác đang trực tiếp cùng các đồng chí mình chuẩn bị cho Cách mạng Việt Nam. Giữa những ngày Tết, người Trung Quốc nô nức đón Tết thì Bác trong vai nhà buôn được sự hỗ trợ của các đồng chí nước bạn đã đến tiệm dầu cù là Vĩnh An Đường, nơi bộ phận Hải ngoại của Đảng ta bố trí đồng chí Vũ Anh trực chờ đón. Đó là mùa Xuân vui nhất của Bác, vì đã 29 mùa Xuân ra đi, chịu bao gian nan khổ cực, là 29 năm mong ước và đợi chờ, nay cơ đồ đã trước mặt, Bác đã về sát biên giới, đã gặp Ban Hải ngoại của Đảng. Tại đây, bên Thúy Hồ lung linh, huyền ảo, Bác cùng Phùng Chí Kiên, Cao Hồng Lĩnh và chú cận vệ bé nhỏ Phùng Nghĩa, sau này là tướng Phùng Thế Tài đã gặp lại Phạm Văn Đồng và lần đầu gặp Võ Nguyên Giáp từ trong nước cử ra gặp Bác.
Tết Tân Tỵ 1941, là Tết kết thúc 30 năm muôn trùng ngàn dặm của Bác. Tết năm đó, ở làng Nam Quan hẻo lánh của tỉnh Quảng Tây, sáng mùng một, Bác cùng anh em đi chúc Tết theo phong tục của người Choang. Cuối chiều, Bác cho hội ý. Bác phân công các đồng chí Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng và vài anh em nữa ở lại, trong đó có Phùng Nghĩa, người cận vệ của Bác trong suốt những tháng ở Côn Minh.
Sáng mồng hai Tết, trong trang phục người Nùng, Bác chào tạm biệt bà con Nặm Quang và cùng cả nhóm lên đường. Sáng sớm, trời rét, sương mù phủ trắng. Đoàn có Bác và các đồng chí: Phùng Chí Kiên, Lê Quảng Ba, Hoàng Văn Lộc, lương y Đặng Văn Cáp, do anh Thế An vừa về Cao Bằng trở qua dẫn đường.
Đi được vài tiếng đồng hồ trong sương mù dày đặc như đi trong mây, Bác cho cả đoàn dừng chân ăn sáng với món cơm nếp ngũ sắc và gói thịt lợn quay của đồng bào đựng trong mo cau. Ăn xong, mọi người uống nước trong các ống bương lấy lộc đầu năm mang theo. Ai cũng vui vẻ cùng Bác.
Cả đoàn phải vượt qua sườn núi đá lởm chởm. Một cột mốc biên giới bằng đá hiện ra. Bác bước đến, dừng lại, xúc động đặt tay lên bia đá, cúi nhìn và reo lên: “Cột mốc 108”. Nói xong, Bác quỳ xuống đặt một tay chạm nền cỏ xanh trên đất, tay phải đặt lên cột mốc, im lặng mấy giây, như muốn nói với giang sơn đất trời, Bác đã về đến Tổ quốc Việt Nam yêu dấu. Trọn đúng 30 mùa Xuân, 30 cái Tết xa quê. Mùng hai Tết Tân Tỵ, Bác đã về đến Tổ quốc, về đến Pác Pó để trực tiếp lãnh đạo Cách mạng Việt Nam. Pác Pó đúng là đầu nguồn của Cách mạng Việt Nam, từ đây Bác về Thái Nguyên, rồi qua Tân Trào khai sinh ra Chính phủ Lâm thời của nhà nước Cách mạng.
GS.TS TRÌNH QUANG PHÚ