4 tháng đầu năm xuất khẩu nông lâm thủy sản đạt 23,04 tỷ đô

4 tháng đầu năm xuất khẩu nông lâm thủy sản đạt 23,04 tỷ đô
2 giờ trướcBài gốc
Báo cáo của Bộ NNMT cho biết, kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản (NLTS) tháng 4 năm 2026 của Việt Nam ước đạt 6,05 tỷ USD, giảm 3,8% so với tháng trước và giảm 0,8% so với cùng kỳ năm trước.
Tổng kim ngạch xuất khẩu NLTS 4 tháng đầu năm 2026 ước đạt 23,04 tỷ USD, tăng 5,4% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, giá trị xuất khẩu các mặt hàng nông sản đạt 12,16 tỷ USD, tăng 1,5%; giá trị xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi đạt 245 triệu USD, tăng 45,5%; giá trị xuất khẩu thủy sản đạt 3,59 tỷ USD, tăng 11,9%; giá trị xuất khẩu lâm sản đạt 5,82 tỷ USD, tăng 0,8%; giá trị xuất khẩu đầu vào sản xuất đạt 1,22 tỷ USD, tăng 66,2%; giá trị xuất khẩu muối đạt 5,7 triệu USD, tăng 62,4%.
Xét theo vùng lãnh thổ, châu Á là thị trường xuất khẩu lớn nhất của các mặt hàng NLTS chính của Việt Nam với thị phần chiếm 44,1%. Hai thị trường lớn tiếp theo là châu Mỹ và châu Âu với thị phần lần lượt là 20,9% và 15,8%. Thị phần của 2 khu vực châu Phi và châu Đại Dương nhỏ, chiếm lần lượt 2,3% và 1,4%. So với cùng kỳ năm trước, ước giá trị xuất khẩu NLTS chính của Việt Nam trong 4 tháng đầu năm 2026 sang khu vực châu Á tăng 11,5%; châu Âu tăng 3,7%; châu Đại Dương tăng 19,8%; trong khi châu Mỹ giảm 3,5%; châu Phi giảm 26%.
Xét theo thị trường chi tiết, Trung Quốc với thị phần 21,1%, Hoa Kỳ với thị phần 18,5% và Nhật Bản với thị phần 7%, là 3 thị trường xuất khẩu các mặt hàng NLTS chính lớn nhất của Việt Nam. So với cùng kỳ năm trước, ước giá trị xuất khẩu NLTS của Việt Nam trong 4 tháng đầu năm 2026 sang thị trường Trung Quốc tăng 28,8%, Nhật Bản tăng 1,3%, trong khi Hoa Kỳ giảm 4,8%.
Trong 4 tháng đầu năm xuất khẩu một số mặt hàng chính tăng trưởng ổn định. Cụ thể: Khối lượng xuất khẩu cà phê tháng 4 năm 2026 ước đạt 198,8 nghìn tấn với giá trị đạt 845,8 triệu USD, đưa tổng khối lượng và giá trị xuất khẩu cà phê 4 tháng đầu năm 2026 đạt 789,3 nghìn tấn và 3,6 tỷ USD, tăng 15% về khối lượng nhưng giảm 7,8% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025. Giá cà phê xuất khẩu bình quân 4 tháng đầu năm 2026 ước đạt 4.555 USD/tấn, giảm 19,8% so với cùng kỳ năm 2025.
Đức, Italia và Tây Ban Nha là 3 thị trường tiêu thụ cà phê lớn nhất của Việt Nam, chiếm thị phần lần lượt là 15,3%, 8,2% và 7,4%. So với cùng kỳ năm trước, giá trị xuất khẩu cà phê 3 tháng đầu năm 2026 sang thị trường Đức giảm 11,2%, thị trường Italia giảm 4,3%, thị trường Tây Ban Nha giảm 1%. Trong nhóm 15 thị trường xuất khẩu lớn nhất, giá trị xuất khẩu cà phê tăng mạnh nhất ở thị trường Trung Quốc với mức tăng 80,8% và giảm mạnh nhất ở thị trường Philippin với mức giảm 28,4%.
Xuất khẩu hàng rau quả 4 tháng đầu năm 2026 đạt 2,06 tỷ USD, tăng 22,3% so với cùng kỳ năm 2025. Ảnh: L.H
Tương tự khối lượng xuất khẩu cao su tháng 4 năm 2026 ước đạt 73,6 nghìn tấn với giá trị đạt 146,7 triệu USD, đưa tổng khối lượng và giá trị xuất khẩu cao su 4 tháng đầu năm 2026 đạt 463,8 nghìn tấn và 860,9 triệu USD, tăng 2,4% về khối lượng nhưng giảm 1,4% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025. Giá cao su xuất khẩu bình quân 4 tháng đầu năm 2026 ước đạt 1.856 USD/tấn, giảm 3,8% so với cùng kỳ năm 2025.
Trung Quốc là thị trường tiêu thụ cao su lớn nhất của Việt Nam với thị phần chiếm 66,1%. Hai thị trường lớn tiếp theo là Inđônêxia và Ấn Độ có thị phần lần lượt là 6,6% và 6%. So với cùng kỳ năm trước, giá trị xuất khẩu cao su 3 tháng đầu năm 2026 sang thị trường Trung Quốc giảm 10,3%, trong khi thị trường Inđônêxia tăng 2,2 lần, thị trường Ấn Độ tăng 42,3%. Trong nhóm 15 thị trường xuất khẩu lớn nhất, giá trị xuất khẩu cao su tăng mạnh nhất ở thị trường Mêhicô với mức tăng 4,4 lần và giảm mạnh nhất ở thị trường Braxin với mức giảm 42,1%.
Giá trị xuất khẩu hàng rau quả tháng 4 năm 2026 ước đạt 532 triệu USD, đưa tổng giá trị xuất khẩu hàng rau quả 4 tháng đầu năm 2026 đạt 2,06 tỷ USD, tăng 22,3% so với cùng kỳ năm 2025. Mặt hàng rau quả của Việt Nam chủ yếu được xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc với thị phần chiếm 51% tổng giá trị xuất khẩu.
Hai thị trường lớn tiếp theo là Hoa Kỳ và Hàn Quốc với thị phần lần lượt là 8,5% và 5%. So với cùng kỳ năm trước, giá trị xuất khẩu hàng rau quả 3 tháng đầu năm 2026 sang thị trường Trung Quốc tăng 49,6%, thị trường Hoa Kỳ tăng 16,5%, thị trường Hàn Quốc tăng 6,3%. Trong nhóm 15 thị trường xuất khẩu lớn nhất, giá trị xuất khẩu hàng rau quả tăng mạnh nhất ở thị trường Campuchia với mức tăng 3,6 lần và giảm mạnh nhất ở thị trường Thái Lan với mức giảm 28,6%.
Khanh Lê
Nguồn Đại Đoàn Kết : https://daidoanket.vn/4-thang-dau-nam-xuat-khau-nong-lam-thuy-san-dat-23-04-ty-do.html