51 năm ngày giải phóng Đà Lạt: Vang mãi bản hùng ca trên cao nguyên

51 năm ngày giải phóng Đà Lạt: Vang mãi bản hùng ca trên cao nguyên
2 giờ trướcBài gốc
51 năm nhìn lại, chiến thắng ấy không chỉ khẳng định sức mạnh của ý chí cách mạng và khối đại đoàn kết toàn dân, mà còn góp phần quan trọng vào thắng lợi chung của dân tộc, đồng thời để lại những bài học có giá trị sâu sắc đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn hiện nay.
Nhân dân Đà lạt mít tinh mừng giải phóng (ảnh tư liệu)
Từ gian khó xây dựng dựng lực lượng đến ngày toàn thắng
Trong những năm đầu sau Hiệp định Genève 1954, cách mạng ở Lâm Đồng đứng trước muôn vàn khó khăn, thử thách. Là địa bàn miền núi, xa sự chỉ đạo trực tiếp, tổ chức Đảng gần như bị gián đoạn, cán bộ và lực lượng vũ trang đã tập kết ra miền Bắc. Nhưng cũng chính trong hoàn cảnh khắc nghiệt ấy, ý chí cách mạng được hun đúc, âm thầm chuẩn bị cho một hành trình lâu dài.
Đầu năm 1955, Ban cán sự Đảng Cực Nam đã chủ trương đưa cán bộ, đảng viên trở lại địa bàn, từng bước khôi phục phong trào. Các Ban cán sự Đảng được thành lập tại Đà Lạt, Bảo Lộc, Di Linh đóng vai trò nòng cốt trong việc lãnh đạo quần chúng đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ, yêu cầu thi hành Hiệp định Genève. Từ những hạt nhân ban đầu, phong trào cách mạng từng bước được gây dựng, lan rộng và bám rễ sâu trong Nhân dân.
Bước ngoặt quan trọng đến vào tháng 8/1961 khi Khu ủy 6 quyết định thành lập Tỉnh ủy hai tỉnh Lâm Đồng và Tuyên Đức. Sự kiện này đã tạo nên một trung tâm lãnh đạo thống nhất, kịp thời đề ra nhiều chủ trương phù hợp với thực tiễn địa phương, đó là xây dựng tổ chức Đảng ở cơ sở, phát triển căn cứ cách mạng, đẩy mạnh tăng gia sản xuất để đảm bảo hậu cần, đồng thời tăng cường lực lượng vũ trang, bám dân, bám địa bàn, kết hợp đấu tranh chính trị và vũ trang. Đến tháng 7/1970, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ nhất của hai tỉnh được tổ chức, mở ra bước phát triển mới cho phong trào cách mạng. Từ đây, các hoạt động đấu tranh diễn ra mạnh mẽ hơn, nhất là ở những địa bàn trọng điểm, tạo thế và lực cho giai đoạn quyết định.
Ảnh tư liệu
Cùng với sự trưởng thành của tổ chức Đảng, lực lượng vũ trang địa phương cũng không ngừng lớn mạnh. Từ những đội công tác ban đầu, đến năm 1969 đã hình thành 2 tiểu đoàn, 6 đại đội tập trung, hàng chục đội công tác vũ trang cùng hơn 1.500 du kích và du kích mật. Ngay trong lòng Đà Lạt, 4 đội biệt động hoạt động bí mật đã góp phần quan trọng vào việc đánh địch từ bên trong. Điều làm nên sức mạnh bền bỉ của cuộc kháng chiến không chỉ nằm ở lực lượng vũ trang, mà còn ở sự đồng lòng của Nhân dân. Từ vùng căn cứ đến đô thị, đồng bào các dân tộc đã sát cánh cùng cách mạng, đóng góp hàng triệu ngày công, vận chuyển khối lượng lớn vũ khí, lương thực, thực phẩm phục vụ chiến trường. Hàng trăm cuộc đấu tranh chính trị đã diễn ra, thu hút đông đảo quần chúng tham gia, tạo nên thế trận lòng dân vững chắc.
Mùa Xuân năm 1975, thời cơ lịch sử chín muồi. Với sự phối hợp của các đơn vị chủ lực, quân và dân Lâm Đồng đồng loạt tiến công. Ngày 28/3/1975, B’Lao (Bảo Lộc) và Di Linh được giải phóng; ngày 02/4/1975, Đức Trọng, Đơn Dương, Lâm Hà tiếp tục được giải phóng, mở đường tiến vào Đà Lạt.
Rạng sáng 03/4/1975, từ ngã ba Phi Nôm, các mũi tiến công nhanh chóng triển khai. Một hướng tiến về D’Ran tiếp quản khu vực khi địch đã rút chạy; hướng chủ lực theo đường 20 tiến vào Đà Lạt, phối hợp với lực lượng cơ sở nội thành chiếm lĩnh các vị trí trọng yếu. Đến 8h giờ 20 phút ngày 03/4/1975, cờ cách mạng tung bay tại cơ quan đầu não của ngụy quyền tỉnh, đánh dấu thời khắc Đà Lạt được hoàn toàn giải phóng.
Đà Lạt hôm nay vươn mình phát triển
Bài học lịch sử - “nội lực” cho hiện tại và tương lai
Chiến thắng ngày 03/4/1975 không chỉ là kết quả của một quá trình đấu tranh kiên cường, mà còn là minh chứng sinh động cho sức mạnh của đường lối cách mạng đúng đắn khi được vận dụng sáng tạo vào thực tiễn địa phương. Trong điều kiện đặc thù của Lâm Đồng, Đảng bộ tỉnh đã linh hoạt cụ thể hóa chủ trương của Trung ương, từ xây dựng tổ chức, phát triển lực lượng đến tổ chức phong trào, tạo nên bước chuyển biến vững chắc qua từng giai đoạn.
Gắn liền với đó là việc phát huy hiệu quả chính sách đại đoàn kết dân tộc. Trên vùng đất có nhiều dân tộc cùng sinh sống, các vùng căn cứ cách mạng đã trở thành điểm tựa quan trọng, nơi hội tụ sức mạnh của Nhân dân. Không chỉ là hậu phương cung cấp sức người, sức của, những vùng căn cứ còn là nơi đào tạo, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đặc biệt là cán bộ người dân tộc thiểu số, góp phần xây dựng nền tảng chính trị vững chắc.
Thực tiễn cũng cho thấy sự linh hoạt trong phương thức đấu tranh, nhất là ở khu vực đô thị. Việc kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh vũ trang và đấu tranh chính trị, giữa lực lượng bên ngoài và cơ sở nội thành đã tạo nên thế trận toàn diện, làm suy yếu hệ thống kiểm soát của đối phương, góp phần rút ngắn quá trình giải phóng.
Xuyên suốt chặng đường ấy, công tác xây dựng Đảng luôn giữ vai trò then chốt. Tổ chức Đảng không ngừng được củng cố, phát triển, hiện diện ở hầu hết các địa bàn trọng điểm, trở thành hạt nhân lãnh đạo phong trào. Sự quan tâm đến công tác phát triển đảng viên, giáo dục chính trị tư tưởng đã tạo nên sự đoàn kết, thống nhất cao, bảo đảm sức chiến đấu bền bỉ trong mọi hoàn cảnh.
Những bài học được đúc kết từ thực tiễn kháng chiến không chỉ thuộc về quá khứ mà đến hôm nay tinh thần đoàn kết, ý chí tự lực, tự cường vẫn tiếp tục được kế thừa và phát huy, trở thành động lực cho công cuộc xây dựng và phát triển.
51 năm sau ngày giải phóng, Đà Lạt (Lâm Đồng) hôm nay đã khoác lên mình diện mạo mới, năng động và giàu sức sống. Thế nhưng, phía sau những đổi thay ấy vẫn là nền tảng vững chắc được hun đúc từ lịch sử đấu tranh kiên cường. Bản hùng ca tháng Tư năm 1975 không chỉ là niềm tự hào, mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc về giá trị của độc lập, tự do.
Từ quá khứ oanh liệt ấy, các thế hệ hôm nay tiếp tục kế thừa, vun đắp, để cao nguyên Đà Lạt không chỉ là vùng đất của thiên nhiên tươi đẹp, mà còn là biểu tượng của ý chí, khát vọng và niềm tin không ngừng vươn lên.
Thanh Nhàn
Nguồn Lâm Đồng : https://baolamdong.vn/51-nam-ngay-giai-phong-da-lat-vang-mai-ban-hung-ca-tren-cao-nguyen-434016.html