Nhân dịp kỷ niệm 75 năm Ngày Truyền thống ngành Công Thương Việt Nam (14/5/1951 - 14/5/2026), phóng viên Báo Công Thương có cuộc trao đổi với PGS.TS. Nguyễn Viết Thông - nguyên Phó Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương, nguyên Tổng Thư ký Hội đồng Lý luận Trung ương về vai trò của ngành trong tiến trình phát triển kinh tế đất nước.
PGS.TS. Nguyễn Viết Thông - nguyên Phó Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương, nguyên Tổng Thư ký Hội đồng Lý luận Trung ương.
Mở rộng thị trường, nâng tầm vị thế quốc gia
- Ông đánh giá như thế nào về vai trò của ngành Công Thương trong tiến trình hiện thực hóa đường lối công nghiệp hóa, hiện đại hóa và xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ?
PGS. TS. Nguyễn Viết Thông: Để đánh giá đúng vai trò của ngành Công Thương, trước hết phải nhìn ngành từ vị trí cấu thành nền tảng vật chất của nền kinh tế quốc dân. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa không nên hiểu đơn giản là quá trình tăng thêm nhà máy, mở rộng khu công nghiệp hay nâng sản lượng sản xuất. Bản chất đó là quá trình xây dựng năng lực sản xuất quốc gia, tổ chức thị trường, bảo đảm các điều kiện thiết yếu cho phát triển và từng bước nâng cao sức mạnh nội sinh của nền kinh tế.
Năm 1986, Việt Nam bắt đầu công cuộc Đổi mới, nền kinh tế còn ở điểm xuất phát thấp, sản xuất khó khăn, thị trường chưa phát triển đầy đủ, ngoại thương còn rất hạn hẹp, kim ngạch xuất khẩu mới đạt khoảng 789 triệu USD. Đến năm 2025, Việt Nam đã thiết lập quan hệ thương mại với hơn 230 thị trường, nằm trong số những quốc gia hàng đầu thế giới về tham gia các Hiệp định thương mại tự do (FTA), trong đó có nhiều FTA thế hệ mới. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa đạt hơn 930 tỷ USD, mức cao kỷ lục; cán cân thương mại xuất siêu hơn 20 tỷ USD. Như vậy, nếu so với mức xuất khẩu 789 triệu USD của năm 1986, kim ngạch xuất khẩu năm 2025 đã lớn hơn khoảng 600 lần. Đây không đơn thuần là sự gia tăng về con số mà là sự thay đổi về vị thế kinh tế của đất nước.
Theo góc nhìn đó, ngành Công Thương có vai trò rất đặc biệt, đây là ngành gắn trực tiếp với công nghiệp, thương mại, năng lượng, xuất nhập khẩu, thị trường trong nước và hội nhập kinh tế quốc tế. Nói cách khác, nhiều mục tiêu lớn của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đều phải đi qua "mặt trận" Công Thương để trở thành hiện thực. Một đất nước muốn công nghiệp hóa thành công phải có nền công nghiệp đủ năng lực, thị trường vận hành thông suốt, hàng hóa có sức cạnh tranh, năng lượng được bảo đảm và doanh nghiệp có môi trường để phát triển.
Lịch sử phát triển của ngành Công Thương gắn với nhiệm vụ rất căn bản là tổ chức sản xuất, lưu thông và bảo đảm vật chất cho đất nước. Trải qua các giai đoạn lịch sử, vai trò đó có sự thay đổi về phạm vi, phương thức và yêu cầu nhưng xuyên suốt vẫn là phục vụ phát triển đất nước bằng những nền tảng kinh tế cụ thể.
Về xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ trong điều kiện hiện nay cũng cần được hiểu một cách biện chứng. Đó không phải là tự tách mình khỏi thế giới mà là xây dựng đủ năng lực để chủ động hội nhập, chủ động lựa chọn, chủ động thích ứng và hạn chế bị động trước các biến động bên ngoài.
Mở lối vươn mình
- Từ hành trình 75 năm của ngành Công Thương, theo ông đâu là những bài học về tư duy phát triển, năng lực tổ chức thực hiện và khả năng biến chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước thành động lực tăng trưởng?
PGS. TS. Nguyễn Viết Thông: Bài học đầu tiên là tư duy phát triển phải luôn bám sát yêu cầu lịch sử của đất nước. Mỗi giai đoạn đặt ra một nhiệm vụ khác nhau: Trong kháng chiến là bảo đảm sản xuất, lưu thông, phục vụ tiền tuyến. Khi bước vào kiến thiết, nhiệm vụ là khôi phục và xây dựng nền tảng công nghiệp, thương nghiệp. Thời kỳ đổi mới, yêu cầu đặt ra là mở đường cho kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thúc đẩy sản xuất, mở rộng thị trường và hội nhập. Bước vào giai đoạn mới, yêu cầu cao hơn là nâng chất lượng tăng trưởng, năng lực tự chủ và phát triển bền vững.
Bài học thứ hai là năng lực tổ chức thực hiện,chủ trương đúng nếu không được tổ chức thực hiện đến nơi, đến chốn sẽ khó tạo ra chuyển biến thực chất. Ngành Công Thương là lĩnh vực hiệu quả chính sách nhìn thấy rất nhanh: Chính sách công nghiệp tác động đến sản xuất; chính sách thương mại tác động đến lưu thông hàng hóa; chính sách xuất nhập khẩu tác động đến thị trường, đơn hàng, việc làm; chính sách năng lượng tác động trực tiếp đến sản xuất, đời sống và ổn định vĩ mô.
Bài học thứ ba là hội nhập phải đi cùng bản lĩnh tự chủ, hiện Việt Nam hiện có quan hệ kinh tế với hơn 230 quốc gia và vùng lãnh thổ cùng 17 FTA. Không gian thị trường mở rộng rất lớn nhưng đi cùng là áp lực tiêu chuẩn, cạnh tranh, phòng vệ thương mại và yêu cầu nâng cấp doanh nghiệp.
Ngành Công Thương tiếp tục giữ vai trò động lực then chốt của nền kinh tế, thúc đẩy công nghiệp hóa.
- Ông nhìn nhận như thế nào về vai trò mới của ngành Công Thương góp phần hiện thực hóa khát vọng đưa Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045?
PGS. TS. Nguyễn Viết Thông: Nói đến mục tiêu đưa Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045 thì không thể chỉ nói bằng khát vọng. Khát vọng rất quan trọng nhưng khát vọng phải được đặt trên nền tảng năng lực thực tế của nền kinh tế. Với ngành Công Thương, vai trò trong giai đoạn tới phải được nhìn từ những việc rất cụ thể: làm cho công nghiệp mạnh hơn, xuất khẩu có giá trị cao hơn, thị trường trong nước vận hành hiện đại hơn, năng lượng bảo đảm hơn và doanh nghiệp Việt Nam có vị trí vững hơn trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
Nếu trước đây chúng ta nói nhiều đến tăng sản lượng, mở rộng thị trường, bảo đảm cung ứng, thì nay phải nói mạnh hơn đến chất lượng phát triển. Muốn trở thành nước phát triển, thu nhập cao, Việt Nam không thể đi mãi bằng lợi thế lao động giá rẻ, gia công, lắp ráp và tăng trưởng theo chiều rộng.
Không thể nói đến nền kinh tế thu nhập cao nếu công nghiệp vẫn ở tầng thấp của chuỗi giá trị. Ngành cần tập trung hơn vào công nghiệp chế biến, chế tạo, công nghiệp hỗ trợ, cơ khí, vật liệu, hóa chất, năng lượng và những lĩnh vực có khả năng tạo giá trị gia tăng cao. Đây là những nền móng của tự chủ kinh tế.
Thứ hai là nâng chất lượng thương mại, xuất khẩu trong giai đoạn tới không thể chỉ chạy theo kim ngạch. Vấn đề là mở thị trường nào, bán sản phẩm gì, đáp ứng tiêu chuẩn ra sao, tận dụng FTA thế nào và bảo vệ doanh nghiệp trước các vụ việc phòng vệ thương mại ra sao. Nếu doanh nghiệp không vượt qua được tiêu chuẩn xanh, truy xuất nguồn gốc, quy tắc xuất xứ và yêu cầu về phát triển bền vững thì thị trường rộng cũng có thể trở thành sức ép.
Thứ ba là bảo đảm năng lượng. Đây là điều kiện sống còn của công nghiệp hóa. Nhà đầu tư không thể yên tâm nếu điện thiếu ổn định, doanh nghiệp khó có thể cạnh tranh nếu chi phí năng lượng quá cao. Một nền kinh tế muốn tăng trưởng cao càng cần hệ thống năng lượng đi trước, an toàn, linh hoạt và có tầm nhìn dài hạn.
Thúc đẩy văn hóa công vụ
- Ngành Công Thương quản lý nhiều ngành kinh tế then chốt, thường xuyên tiếp xúc với doanh nghiệp, đối tác quốc tế. Theo ông, trong chặng đường phát triển mới cần xây dựng văn hóa công vụ và năng lực thực thi chính sách như thế nào để tinh thần "nói ít, làm nhiều, làm đến cùng" trở thành sức mạnh hành động, tạo niềm tin cho doanh nghiệp, người dân và xã hội?
PGS. TS. Nguyễn Viết Thông: Nền công vụ Việt Nam được xây dựng trên nền tảng tư tưởng Hồ Chí Minh là nền công vụ dân chủ, thân dân, trọng dân, vì dân, lấy đạo đức cách mạng làm nền tảng để phụng sự nhân dân. Nói như vậy để thấy công vụ không phải là quyền lực đứng trên xã hội, công vụ là trách nhiệm phục vụ xã hội. Cán bộ công chức phải luôn tự hỏi: quyết định của mình có giúp công việc thông suốt hơn không, có làm người dân và doanh nghiệp thuận lợi hơn không, có góp phần nâng hiệu lực quản trị nhà nước hay không?
Tinh thần "nói ít, làm nhiều, làm đến cùng" muốn trở thành sức mạnh hành động phải được cụ thể hóa, không nên để tinh thần đó chỉ tồn tại trong khẩu hiệu. Phải đi vào quy trình xử lý công việc, trách nhiệm người đứng đầu, kỷ luật hành chính, chuyển đổi số, kiểm tra giám sát và thước đo hài lòng của người dân, doanh nghiệp.
Với ngành Công Thương, cần xây dựng đội ngũ cán bộ có 4 phẩm chất căn bản. Thứ nhất là bản lĩnh chính trị, hiểu đúng đường lối phát triển của đất nước. Thứ hai là năng lực chuyên môn, vì các vấn đề công nghiệp, thương mại, năng lượng, hội nhập đều rất phức tạp. Thứ ba là tinh thần phục vụ, biết lắng nghe doanh nghiệp và người dân. Thứ tư là dám chịu trách nhiệm, không né tránh, không đùn đẩy, không lấy an toàn cá nhân làm thước đo công vụ.
Một nền công vụ tốt sẽ tạo ra niềm tin, niềm tin trong phát triển là một nguồn lực rất lớn. Doanh nghiệp tin vào chính sách, người dân tin vào bộ máy và cán bộ tin vào trách nhiệm phụng sự của mình, ngành Công Thương sẽ có thêm sức mạnh nội sinh để bước vào chặng đường mới.
- Xin cảm ơn ông!
Kỷ niệm 75 năm Ngày Truyền thống ngành Công Thương Việt Nam (14/5/1951 - 14/5/2026) là dấu mốc khẳng định chặng đường phát triển bền bỉ và những đóng góp quan trọng của ngành đối với sự nghiệp phát triển kinh tế đất nước. Trải qua nhiều giai đoạn lịch sử, ngành Công Thương luôn giữ vai trò động lực trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đảm bảo an ninh năng lượng, thúc đẩu thương mại, dịch vụ và hội nhập kinh tế quốc tế.
Nguyên Thảo (thực hiện)