Doanh nghiệp - từ “đối tượng quản lý” đến “chủ thể phát triển”
Trong những thập niên đầu của nhà nước cách mạng, doanh nghiệp, đặc biệt là khu vực kinh tế tư nhân, chưa phải là một chủ thể trung tâm trong hoạt động lập pháp. Điều này phù hợp với bối cảnh lịch sử, mô hình kinh tế và những ưu tiên phát triển lúc đó. Nhưng, cùng với công cuộc Đổi mới, nhận thức về vai trò của doanh nghiệp dần thay đổi; để rồi ngày nay, doanh nghiệp được xác định là động lực quan trọng của tăng trưởng, đổi mới sáng tạo và hội nhập quốc tế.
Sự thay đổi trong tư duy ấy không diễn ra trong một sớm một chiều, mà được kết tinh qua từng bước hoàn thiện thể chế.
Ông Nguyễn Đình Cung, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM), là người trực tiếp tham gia soạn thảo các dự luật đầu tiên về doanh nghiệp. Ông cho rằng, việc Quốc hội, vào năm 1990, thông qua Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân đã “đặt dấu ấn đầu tiên, thừa nhận sự tồn tại về mặt pháp lý của khu vực kinh tế tư nhân trong nước”.
Tuy nhiên, các đạo luật này vẫn được xây dựng trên nguyên tắc doanh nghiệp chỉ được làm những gì pháp luật và cơ quan nhà nước cho phép. Tư duy “xin - cho” còn hiện diện khá rõ và các chuẩn mực về quản trị doanh nghiệp vẫn còn rất sơ khai.
Chín năm sau, Luật Doanh nghiệp năm 1999 ra đời tạo nên một bước ngoặt mang tính nền tảng. Đạo luật này đánh dấu sự thay đổi căn bản trong tư duy: nhà nước từ chỗ coi quyền kinh doanh là của mình đã trao quyền kinh doanh cho người dân, cho doanh nghiệp và bảo đảm quyền tự do kinh doanh của họ; theo ông Nguyễn Đình Cung, đây chính là "thành tựu lớn nhất và đáng tự hào nhất".
Từ bước ngoặt đó, môi trường kinh doanh nước ta mở ra một trang mới. Hàng trăm nghìn doanh nghiệp được thành lập, không chỉ mở rộng quy mô nền kinh tế mà còn tạo ra sức sống mới cho xã hội, thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo.
Song hành với sự lớn mạnh của cộng đồng doanh nghiệp, vai trò của Quốc hội ngày càng rõ nét hơn trong việc “gạn lọc” và “kết tinh” những yêu cầu cải cách từ thực tiễn. Từ việc hoàn thiện khung khổ pháp lý cho hoạt động đầu tư, kinh doanh; bảo vệ quyền tài sản và quyền tự do kinh doanh; đến tháo gỡ những điểm nghẽn thể chế kéo dài, các quyết sách của Quốc hội ngày càng hướng nhiều hơn tới yêu cầu phát triển của doanh nghiệp. Cách tiếp cận lập pháp vì thế cũng dần thay đổi: doanh nghiệp không còn chỉ là đối tượng chịu sự điều chỉnh của pháp luật, mà ngày càng được coi là chủ thể đồng hành trong quá trình xây dựng và hoàn thiện chính sách.
Là người trong cuộc, hơn ai hết, cộng đồng doanh nghiệp cảm nhận sâu sắc nhất sự đồng hành của Quốc hội; với ông Đậu Anh Tuấn, Phó Tổng Thư ký kiêm Trưởng ban Pháp chế của Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), điều gây ấn tượng mạnh nhất là tinh thần khẩn trương, quyết liệt và bám sát thực tiễn của Quốc hội.
“Cuộc sống cần những chính sách nhanh, kịp thời thì Quốc hội và Chính phủ họp đêm họp ngày để kịp thời ban hành thông qua. Những kỳ họp Quốc hội hay Ủy ban Thường vụ Quốc hội vừa qua có nhiều kỷ lục, cách làm chưa có tiền lệ về sự khẩn trương và tốc độ thảo luận và thông qua chính sách…”, ông Tuấn chia sẻ.
Đặc biệt, trong quá trình làm luật, việc tham vấn ý kiến doanh nghiệp ngày càng được thực hiện bài bản và thực chất. “Có những dự án luật, VCCI được các cơ quan của Quốc hội gửi lấy ý kiến tới 4 - 5 lần”. Cũng theo ông Tuấn, “không có rào cản hay trở ngại nào từ phía cơ quan lập pháp đối với việc doanh nghiệp tham gia góp ý vào quá trình xây dựng chính sách”.
Từ những cuộc tham vấn đó, và từ những cuộc tiếp xúc cử tri chuyên đề, từ các diễn đàn kinh tế, lập pháp..., nhiều ý kiến từ thực tiễn đã được chắt lọc, phản ánh vào nghị trường, góp phần làm cho chính sách sát hơn với đời sống. Cũng vì thế, mỗi quyết đáp của Quốc hội đều gửi đi thông điệp về sự đồng hành của nhà nước với cộng đồng doanh nghiệp trên con đường phát triển.
Kiến tạo khung khổ pháp lý cho nền kinh tế thị trường
Nhìn rộng hơn, TS. Nguyễn Sĩ Dũng, nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội cho rằng, Quốc hội Việt Nam, trong tiến trình Đổi mới, đã để lại những dấu ấn đậm nét trong việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Dấu ấn đó trước hết thể hiện ở vai trò kiến tạo khung khổ pháp lý cho nền kinh tế thị trường. Thông qua việc ban hành và thường xuyên sửa đổi, bổ sung các đạo luật nền tảng như Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Đất đai, Luật Đấu thầu, Luật Thương mại…, Quốc hội đã mở đường cho quyền tự do kinh doanh, tạo điều kiện cho các loại hình doanh nghiệp hình thành và phát triển, đồng thời bảo vệ quyền tài sản và khẳng định nguyên tắc cạnh tranh bình đẳng - những trụ cột cốt lõi của kinh tế thị trường hiện đại.
Cùng với đó, Quốc hội đã đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy hội nhập quốc tế và bảo đảm thực thi các cam kết quốc tế của Việt Nam. Việc phê chuẩn nhiều hiệp định thương mại song phương và đa phương quan trọng như WTO, CPTPP, EVFTA hay RCEP bên cạnh ý nghĩa pháp lý còn thể hiện một lựa chọn chiến lược, gắn nền kinh tế Việt Nam ngày càng sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu, khẳng định quyết tâm mở cửa và hội nhập sâu rộng.
Một điểm nhấn khác trong quá trình hoàn thiện thể chế là việc gắn kết chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội. Quốc hội đã ban hành nhiều đạo luật liên quan đến an sinh xã hội, giáo dục, y tế và bảo vệ môi trường, qua đó hướng tới mục tiêu phát triển bao trùm, bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình phát triển.
Đặc biệt, Quốc hội đã tăng cường vai trò giám sát để bảo đảm thể chế đi vào cuộc sống. Thông qua các phiên chất vấn và giám sát chuyên đề, Quốc hội đã thúc đẩy Chính phủ cùng các bộ, ngành kịp thời tháo gỡ những rào cản, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh.
TS. Nguyễn Sĩ Dũng cho rằng, những thành tựu này không chỉ làm thay đổi diện mạo nền kinh tế, mà còn tạo tiền đề cho khát vọng phát triển trong giai đoạn tới.
Nhìn về phía trước, các vấn đề chính sách, pháp lý phải xử lý có độ phức tạp lớn hơn, nằm trong “lõi thể chế” của cải cách. Mặt khác, những thách thức kỹ thuật còn phức tạp hơn nữa khi mọi bước đi đều phải tính toán đến môi trường quốc tế, đến yếu tố địa chiến lược và địa chính trị; cũng như những cam kết và ràng buộc sâu sắc trong các khuôn khổ thương mại, pháp lý mà Việt Nam ký kết tham gia.
Bên cạnh đó, chính sách kinh tế trong thời gian tới ngoài việc hướng đến tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi, lành mạnh, bình đẳng cho mọi thành phần kinh tế thì còn cần có sự ưu tiên thỏa đáng cho kinh tế số. Giải những bài toán về tài sản số, về thuế; về hợp tác công tư trong đầu tư hạ tầng kết nối và hạ tầng dữ liệu; về thương mại số xuyên biên giới, về xử lý tranh chấp trên môi trường số… là những công việc nặng nề đặt trên bàn nghị sự của Quốc hội.
Hơn nữa, khi doanh nghiệp Việt Nam vươn ra thị trường khu vực và toàn cầu, nhu cầu về một hệ thống pháp luật ổn định, minh bạch và có khả năng dự báo trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.
Đây đều là những bài toán khó đặt ra cho Quốc hội nhưng lợi ích cho đất nước, cho doanh nghiệp và người dân là vô cùng lớn nếu xử lý thành công những vấn đề như vậy. Điều này đòi hỏi Quốc hội trong hành trình sắp tới phải tiếp tục đổi mới, ghi những dấu ấn mới trong kiến tạo thể chế phát triển, góp phần đưa Việt Nam trở thành một quốc gia thịnh vượng.
Hà Lan