85 mùa xuân trước, ngày 28/1/1941, sau 30 năm xa Tổ quốc, Bác Hồ - khi đó là Nguyễn Ái Quốc - đã vượt qua cột mốc 108, về đến Pác Bó, xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng (nay là xã Trường Hà, tỉnh Cao Bằng) - đánh dấu bước chân đầu tiên của Người trở về mảnh đất quê hương sau 30 năm bôn ba đi tìm đường cứu nước.
"Sáng ra bờ suối, tối vào hang / Cháo bẹ rau măng vẫn sẵn sàng / Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng / Cuộc đời cách mạng thật là sang" (bài thơ Tức cảnh Pác Bó, tác giả Nguyễn Ái Quốc).
Bài thơ được nhiều người thuộc lòng này đã phần nào khái quát lại cuộc sống và tinh thần sống của Bác trong những ngày tháng sống tại Pác Bó. Còn nhiều câu chuyện về Bác Hồ ở Pác Bó; về bối cảnh xã hội trong nước và quốc tế, dẫn tới quyết định của Bác và Ban Thường vụ Trung ương “phải về nước để cùng tham gia với các đồng chí”... đã được kể lại trong những cuốn sách, những kỷ niệm của người dân về Người.
Bác thăm lại Pác Bó năm 1961. Ảnh tư liệu.
Thời điểm chín muồi để Người trở về
Những ngày cuối năm 1940, đầu năm 1941, chiến tranh thế giới thứ hai bước vào giai đoạn quyết liệt, chủ nghĩa phát xít dần suy yếu, phong trào quần chúng trong nước đang dâng cao... đó là thời cơ chín muồi để Bác trở về Tổ quốc, trực tiếp lãnh đạo cách mạng.
Trong cuốn Theo dấu chân Người, GS.TS Trình Quang Phú đã kể lại chi tiết hành trình Bác trở về Tổ quốc qua câu chuyện Trên đường về biên giới và Mùa xuân Bác về Tổ quốc.
Cuốn "Theo dấu chân người". Ảnh: NXB Kim Đồng.
Bác đánh giá tình hình: “Trong dịp Tết, bọn mật thám và lính lệ cũng lo ăn Tết, việc tuần tra canh gác sẽ lơ là, mọi người đi chúc Tết đông vui, anh em trở về trong lúc này sẽ thuận lợi".
“Tết Tân Tị năm 1941 đến trên đất Quảng Tây, đồng bào Nặm Quang trang trí nhà cửa, treo lồng đèn đỏ và các chữ đỏ đón năm mới cùng với hoa tết, cũng vạn thọ, cúc vàng như ở Việt Nam, làm cho nỗi nôn nao giục giã Bác về nước càng tăng lên [...] Sáng mồng hai Tết, trong trang phục người Nùng, quần áo màu chàm, khuy cài bằng vải, khoác áo lông chồn, chào tạm biệt bà con Nặm Quang, Bác cùng cả nhóm lên đường. Sáng sớm, trời rét, sương mù phủ trắng", cuốn sách ghi.
Công cuộc chuẩn bị cho chuyến trở về được tính toán kỹ lưỡng từng chi tiết để tránh tai mắt của giặc rình rập. Tác giả Trình Quang Phú đã kể lại rất sống động, như thể đưa người đọc "đồng hành" cùng Bác trên cung đường năm xưa đó.
Tác giả viết: “Sương mù dày đặc như đi trong mây, cách nhau một thước không nhìn thấy nhau”. “Lên dốc, xuống dốc, lại lên dốc. Cả đoàn phải vượt qua sườn núi đá lởm chởm". “Một cột mốc biên giới bằng đá hiện ra. Bác bước đến, dừng lại, xúc động đặt tay lên bia đá, cúi nhìn và reo lên: Cột mốc 108. Nói xong, Bác quỳ xuống, đặt một tay xuống nền cỏ xanh trên đất, tay phải đặt lên cột mốc, im lặng mấy giây, như muốn nói với giang sơn đất trời, Bác đã về đến Tổ quốc Việt Nam yêu dấu".
Những ngày ở hang Pác Bó, Bác thường dậy rất sớm và gọi mọi người cùng dậy. Bác tập thể dục, tắm suối, rồi làm việc. Bữa cơm của Bác mỗi ngày có chút thịt muối hoặc con cá con mới bắt được dưới suối.
Buổi tối, mọi người đốt lửa sưởi vì trong hang rất lạnh. Cả nhóm ngồi quây quần nghe Bác kể chuyện. Có lần, Bác nhắc lại những cuộc chiến, cách mạng lớn gần đây, phỏng đoán độ bốn, năm năm nữa, chiến tranh sẽ tới bước quyết định, và lúc đó là một cơ hội rất tốt cho cách mạng của ta.
“Ông Ké” trong lòng người dân Pác Bó
Trong thời gian hoạt động bí mật tại núi rừng Pác Bó, Bác Hồ đã đào tạo, giác ngộ nhiều cán bộ, quần chúng tham gia hoạt động cách mạng. Ông Ké, Chú Thu hay Già Thu đều là những danh xưng thân thương, gần gũi, đầy kính trọng mà đồng bào ở Pác Bó đã gọi Bác Hồ trong thời gian này.
Bác Hồ thường xuyên nói chuyện với người dân về văn hóa, chính trị. Ông Dương Chí Quân, cháu nội cụ Dương Văn Đình - một người rất gắn bó với Bác trong thời gian Bác ở Pác Bó, từng chia sẻ với báo chí: “Trước kia Bác đến hoạt động thì có mật danh là ông Ké. Bác đến tuyên truyền với quần chúng ở Pác Bó thì lúc nào Bác cũng giấu mặt, ban đêm Bác mới đến, khi đến nhà cụ Dương Đình thì Bác ngồi nói chuyện ở chỗ tối, để giấu mặt, không ai biết là Bác Hồ đâu, chỉ biết là ông Ké thôi. Đến hòa bình lập lại Chủ tịch Hồ Chí Minh lên thăm thì nhân dân mới biết Ông Ké chính là Hồ Chủ tịch”.
Bác Hồ về thăm nhân dân Pác Bó ngày 20/2/1961. Ảnh: Báo Nhân Dân.
Bà Nông Thị Trưng, một phụ nữ dân tộc Tày cũng được Bác hướng dẫn, nuôi dưỡng văn hóa, chính trị, đạo đức, phong cách sống của người cộng sản. Nhiều kỷ niệm về những ngày tháng đó được bà kể lại trong cuốn hồi kí Những ngày sống gần Bác.
Cuốn Những ngày sống gần Bác. Ảnh: NXB Kim Đồng.
Bà chia sẻ trong cuốn hồi kí: “Chú dạy về kinh đô, dân số các nước, các lãnh tụ đề xướng ra chủ nghĩa cộng sản là Mác và Ăng-ghen… Chú còn giảng rất kĩ, rất cụ thể nhiệm vụ của đoàn thể Việt Minh và Đảng Cộng sản Đông Dương cho tôi. Chú cũng giảng cả vai trò lãnh đạo lịch sử của giai cấp công nhân thế giới, vai trò đội quân chủ lực của giai cấp là nông dân và ý nghĩa khối liên minh công nông. Đặc biệt Chú giảng cho tôi rất nhiều, rất kĩ về vấn đề giải phóng phụ nữ".
Trong cuốn sách, tác giả Nông Thị Trưng cũng chia sẻ một kỷ niệm về nguồn gốc bốn câu thơ: “Vở này ta tặng cháu yêu ta / Tỏ chút lòng yêu cháu gọi là / Mong cháu ra công mà học tập / Mai sau cháu giúp nước non nhà.”.
Đây chính là bốn câu thơ Bác viết tặng bà Nông Thị Trưng, như bà chia sẻ: “Chú Thu tặng tôi quyển Binh pháp Tôn Tử. Những ngày ở trong nhà tù của Tưởng, Chú đã dịch Binh pháp Tôn Tử, khi về nước Chú cho tôi quyển vở quý báu đó làm quà. Ngoài bìa quyển vở đó Chú ghi bốn câu thơ…”
Thụy An