Trong nửa thế kỷ qua, các cường quốc hạt nhân trên thế giới dựa vào một hệ thống hiệp ước phức tạp và tinh vi, từng bước cắt giảm số lượng vũ khí hạt nhân trên hành tinh. Giờ đây, những hiệp ước đó đã không còn và có vẻ chúng sẽ không sớm quay trở lại.
Như một biện pháp tạm thời, các nhà nghiên cứu và nhà khoa học đang đề xuất một hướng đi táo bạo và có phần kỳ lạ: Sử dụng hệ thống vệ tinh và AI để giám sát kho vũ khí hạt nhân toàn cầu.
“Phải nói rõ, đây là phương án B”, Matt Korda - phó giám đốc tại Liên đoàn các nhà khoa học Mỹ (FAS) - chia sẻ với tạp chí WIRED.
Matt Korda đã viết một báo cáo tại FAS, phác thảo tương lai khả thi cho việc kiểm soát vũ khí trong một thế giới mà tất cả hiệp ước cũ đã hết hiệu lực.
Trong báo cáo Kiểm tra không cần thanh tra viên, Matt Korda và đồng tác giả Igor Morić mô tả một cách thức mới để giám sát vũ khí hạt nhân mà họ gọi là “phương tiện kỹ thuật hợp tác”. Nói ngắn gọn, vệ tinh và các công nghệ cảm biến từ xa sẽ làm công việc mà trước đây các nhà khoa học và thanh tra viên thực hiện trực tiếp tại chỗ.
Matt Korda cho rằng AI có thể hỗ trợ quá trình này. “Một trong những điều mà AI làm rất tốt là nhận diện mẫu. Nếu có một bộ dữ liệu đủ lớn và được tuyển chọn kỹ lưỡng, về lý thuyết, bạn có thể huấn luyện mô hình AI có khả năng phát hiện những thay đổi nhỏ tại các địa điểm cụ thể, thậm chí có thể nhận diện từng hệ thống vũ khí riêng lẻ”, ông nói.
Hiệp ước New START (New Strategic Arms Reduction Treaty) đã hết hạn vào ngày 5.2. Theo báo cáo, Mỹ và Nga vẫn tạm thời duy trì hiện trạng, ít nhất là lúc này.
New START là hiệp ước kiểm soát vũ khí hạt nhân giữa Mỹ và Nga, được ký năm 2010 dưới thời Tổng thống Mỹ khi đó là Barack Obama và Tổng thống Nga lúc bấy giờ là Dmitry Medvedev.
Hiệp ước này giới hạn số lượng vũ khí hạt nhân chiến lược mà mỗi bên được phép triển khai. Cụ thể, mỗi nước chỉ được triển khai tối đa 1.550 đầu đạn hạt nhân chiến lược, cùng với giới hạn về số lượng tên lửa đạn đạo xuyên lục địa (ICBM), tên lửa phóng từ tàu ngầm (SLBM) và máy bay ném bom hạt nhân.
Ngoài các mức trần về vũ khí, New START còn rất quan trọng vì thiết lập cơ chế minh bạch và thanh tra tại chỗ, cho phép hai bên kiểm tra lẫn nhau để bảo đảm tuân thủ. Điều này giúp duy trì lòng tin và giảm nguy cơ hiểu lầm trong quan hệ hạt nhân giữa hai cường quốc sở hữu hơn 90% vũ khí hạt nhân toàn cầu.
Hiệp ước có hiệu lực năm 2011, được gia hạn thêm 5 năm vào 2021 và chính thức hết hiệu lực vào ngày 5.2.2026. Khi New START chấm dứt, Mỹ và Nga không còn bất kỳ hiệp ước nào đang có hiệu lực để giới hạn kho vũ khí hạt nhân chiến lược của mình.
Cả Mỹ lẫn Nga đều đang chi hàng tỉ USD để phát triển các loại vũ khí hạt nhân mới và khác biệt. Trung Quốc đang xây dựng thêm các hầm phóng ICBM. Khi Mỹ rút dần khỏi vai trò dẫn dắt trên trường quốc tế, những đảm bảo về hạt nhân của nước này ngày càng kém giá trị, còn các quốc gia như Hàn Quốc bắt đầu cân nhắc phát triển bom hạt nhân. Lòng tin giữa các nước đang ở mức thấp kỷ lục.
Giám sát kho vũ khí hạt nhân từ bên ngoài
Trong bối cảnh đó, đề xuất của Matt Korda - Igor Morić là tận dụng hạ tầng hiện có để đàm phán và thực thi các hiệp ước mới. “Không quốc gia nào muốn các thanh tra viên nước ngoài đi lại trên lãnh thổ của mình”, Matt Korda khẳng định. Vì vậy, thay vào đó, các cường quốc hạt nhân có thể sử dụng vệ tinh và cảm biến từ xa để giám sát kho vũ khí hạt nhân từ bên ngoài. Các hệ thống AI và học máy sẽ xử lý dữ liệu, phân loại, rồi chuyển cho con người thẩm định.
Đây là một đề xuất chưa hoàn hảo, nhưng còn tốt hơn tình trạng gần như không có gì hiện nay.
Các nhà khoa học đang đề xuất một hướng đi táo bạo và có phần kỳ lạ: Sử dụng hệ thống vệ tinh và AI để giám sát kho vũ khí hạt nhân toàn cầu - Ảnh: MTG
Trong nhiều thập kỷ, Mỹ và Nga đã hợp tác để giảm số lượng vũ khí hạt nhân trên thế giới. Năm 1985 có hơn 60.000 đầu đạn hạt nhân, hiện chỉ còn hơn 12.000. Việc loại bỏ khoảng 50.000 vũ khí hạt nhân đã đòi hỏi hàng chục năm nỗ lực của các chính trị gia, nhà ngoại giao và nhà khoa học.
Sự chấm dứt của Hiệp ước New START đánh dấu sự phủ nhận những nỗ lực đó. Các cuộc thanh tra tại chỗ từng tạo dựng lòng tin giữa Nga và Mỹ, đặt nền móng cho việc hạ nhiệt căng thẳng trong Chiến tranh Lạnh. Giờ đây, kỷ nguyên đó đã qua, nhường chỗ cho thời kỳ đối đầu và cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân mới.
“Ý tưởng trong bài viết của chúng tôi là: Liệu có tồn tại một giải pháp trung dung giữa việc không có kiểm soát vũ khí và chỉ đơn thuần do thám, với kiểm soát vũ khí có thanh tra tại chỗ mang tính xâm nhập cao mà có thể không còn khả thi về mặt chính trị nữa? Chúng ta có thể làm gì từ xa nếu các quốc gia hợp tác với nhau để tạo điều kiện cho một cơ chế xác minh từ xa?”, ông nói.
Đề xuất của Matt Korda - Igor Morić là tận dụng mạng lưới vệ tinh hiện có để giám sát các hầm phóng ICBM, bệ phóng di động và cơ sở sản xuất lõi plutonium.
Lõi plutonium là phần trung tâm của một đầu đạn hạt nhân, nơi chứa vật liệu phân hạch (thường là plutonium-239) và là thành phần trực tiếp tạo ra vụ nổ hạt nhân.
Trở ngại lớn là việc vận hành hiệu quả một cơ chế hiệp ước được xác minh từ xa sẽ đòi hỏi mức độ hợp tác nhất định. Các cường quốc hạt nhân vẫn cần phải đồng ý tham gia.
“Họ có thể gửi thông điệp rằng: Để phục vụ việc xác minh hiệp ước kiểm soát vũ khí này, chúng tôi muốn các bạn mở nắp hầm phóng tên lửa cụ thể vào ngày này và giờ này, vì khi đó vệ tinh của chúng tôi sẽ bay qua. Điều đó cho phép thực hiện kiểu xác minh lẫn nhau bằng công nghệ hiện có. Không cần người có mặt tại chỗ và cũng không cần giám sát liên tục kiểu do thám để hy vọng bắt gặp điều gì đó. Thay vào đó, các bên cùng hợp tác để xác minh lẫn nhau”, Matt Korda nói.
Rất nhiều vấn đề
Các hệ thống AI, được con người kiểm chứng, có thể giám sát toàn bộ quá trình. Song có rất nhiều vấn đề. Một trong số đó là các hệ thống AI hiệu quả cần bộ dữ liệu lớn để huấn luyện, trong khi dữ liệu về vũ khí hạt nhân không nhiều. “Bạn phải xây dựng bộ dữ liệu riêng cho từng quốc gia. Ví dụ, Nga xây dựng hầm phóng ICBM như thế nào, Mỹ xây dựng ra sao. Song ngay trong cùng một quốc gia, vẫn có sự khác biệt”, Matt Korda nói.
Chuyên gia Sara Al-Sayed thuộc Liên minh Các Nhà khoa học Quan tâm (UCS) đã xây dựng một bộ dữ liệu như vậy trong nghiên cứu sắp công bố về việc sử dụng AI để xác minh kiểm soát vũ khí. Nghiên cứu của Sara Al-Sayed tập trung vào tên lửa, nhưng bà cho biết một hệ thống giám sát hạt nhân dựa trên AI giả định sẽ cần theo dõi nhiều loại dữ liệu hơn nữa.
UCS là tổ chức phi lợi nhuận được thành lập năm 1969 bởi các nhà khoa học và sinh viên tại Học viện Công nghệ Massachusetts (Mỹ). Mục tiêu của UCS là thúc đẩy các chính sách công dựa trên bằng chứng khoa học nhằm giải quyết những vấn đề lớn như biến đổi khí hậu, năng lượng, an toàn hạt nhân, vũ khí hạt nhân và an ninh toàn cầu.
“Bạn phải nghĩ đến mọi thứ như tên lửa, bệ phóng, máy bay ném bom, tàu ngầm, địa điểm sản xuất, thử nghiệm, lưu trữ, bảo trì và tháo dỡ, gồm cả tất cả vật thể xuất hiện tại những địa điểm đó. Bạn thực sự phải suy nghĩ ở mức độ chi tiết đến từng vật thể”, Sara Al-Sayed nói với WIRED.
Sau đó là câu hỏi: “Chính xác thì các hệ thống AI này sẽ làm gì? Nhiệm vụ là gì? Bạn muốn phát hiện sự có mặt hay vắng mặt của một vật thể? Phân loại những gì bạn đang thấy? Hay bạn muốn xác định và theo dõi những thay đổi theo thời gian?”, Sara Al-Sayed đặt vấn đề.
Trong một thế giới giả định nơi AI và cảm biến từ xa thay thế thanh tra tại chỗ, các bên tham gia hiệp ước mới sẽ phải thống nhất cách AI hoạt động và những gì công nghệ này theo dõi. Điều đó đồng nghĩa phải bắt đầu các vòng đàm phán và ký kết những thỏa thuận mới, trong khi nhiều quốc gia còn chưa tuân thủ nghiêm túc các cam kết cũ của mình.
Sara Al-Sayed cho rằng nếu thế giới phải đàm phán chi tiết về kiểm soát vũ khí bằng AI thì tình hình đã rất đáng lo. “Tại sao bạn lại muốn dựa vào một cơ chế xác minh dựa trên AI? Nếu tin rằng tự động hóa là cần thiết, bạn đang ở trong một mô hình tư duy nơi bạn cảm thấy phải phát hiện mọi hành vi gian lận của đối thủ hoặc đối tác hiệp ước. Vậy làm sao hai hay nhiều bên có thể ngồi lại để đàm phán một hiệp ước kiểm soát vũ khí nếu mặc định rằng mọi hành động đều có thể đáng ngờ?”.
Nghiên cứu của Sara Al-Sayed cũng cho thấy các hệ thống AI phức tạp hơn nhiều so với những gì người ủng hộ thường mô tả. Bà cho rằng bản thân các kỹ thuật AI vốn đã chứa yếu tố ngẫu nhiên ngay từ đầu, từ khâu chọn và chuẩn bị dữ liệu để huấn luyện mô hình, đến quá trình gán nhãn, rồi cách mô hình vận hành. Hiệu suất của mô hình AI cũng có thể thay đổi khó lường, lại thiếu tính minh bạch trong cách đưa ra kết quả. Tất cả những điều đó khiến kết quả mà AI đưa ra mang tính ngẫu nhiên và khó giải thích hơn nhiều người nghĩ.
“Làm sao để bản thân các cỗ máy trở nên đáng tin cậy?”, Sara Al-Sayed đặt câu hỏi.
Hiện tại, chúng ta chưa thể. Các hệ thống AI vẫn gặp vấn đề mỗi ngày, được triển khai với lỗ hổng bảo mật lớn và ngay cả người thiết kế đôi khi cũng không thể giải thích cách chúng hoạt động. Sẽ rất khó để đặt nền móng cho một chế độ kiểm soát vũ khí hạt nhân mới dựa trên công nghệ như vậy.
Với Matt Korda - Igor Morić và những người khác tại FAS, vấn đề nằm ở việc ưu tiên xử lý sự cố, sử dụng vệ tinh và các hệ thống AI chưa hoàn hảo để giám sát vũ khí hạt nhân trên thế giới có thể là bước nhỏ hướng tới một thế giới tốt đẹp hơn.
“Một hiệp ước thay thế New START sẽ không đưa chúng ta đến con đường giải trừ hạt nhân. Nó chỉ giúp ngăn chặn một vòng xoáy thực sự nguy hiểm, nơi hàng trăm vũ khí hạt nhân mới được triển khai thêm”, Matt Korda nhấn mạnh.
Sơn Vân