Ðại đoàn kết dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Ðại đoàn kết dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh
4 giờ trướcBài gốc
Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ huy dàn nhạc giao hưởng biểu diễn bài Kết đoàn. Ảnh chụp ngày 3-9-1960 tại đêm Dạ hội Nhân dân thủ đô mừng sự thành công của Đại hội toàn quốc lần thứ III của Đảng Lao động Việt Nam. Ảnh tư liệu
Chủ tịch Hồ Chí Minh và những tư tưởng lớn về đại đoàn kết toàn dân tộc
Trong bài nói chuyện tại Hội nghị đại biểu Mặt trận Liên - Việt toàn quốc ngày 10-1-1955, Người giải thích: “Đại đoàn kết tức là trước hết phải đoàn kết đại đa số nhân dân, mà đại đa số nhân dân ta là công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác. Đó là nền gốc của đại đoàn kết. Nó cũng như cái nền của nhà, gốc của cây”.
Tư tưởng về đại đoàn kết tiếp tục được Hồ Chí Minh cụ thể hóa trong các cụm từ như: “đại đoàn kết toàn dân”, “đoàn kết toàn dân”, “đoàn kết dân tộc”, “toàn dân tộc ta đoàn kết”. Tuy cách diễn đạt có thể khác nhau, nhưng nội hàm của các khái niệm trên đều thống nhất khi khẳng định lực lượng của khối đại đoàn kết là của toàn thể nhân dân Việt Nam. Có thể thấy, ý nghĩa cốt lõi trong nội dung đại đoàn kết dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh là đoàn kết mọi thành viên trong đại gia đình dân tộc Việt Nam dù sống trong nước hay định cư ở nước ngoài, đoàn kết tôn giáo vì mục tiêu chung là vì lợi ích cao nhất của Tổ quốc và nhân dân.
Đối với Hồ Chí Minh, đại đoàn kết dân tộc là tư tưởng có ý nghĩa chiến lược cơ bản, nhất quán và xuyên suốt tiến trình cách mạng Việt Nam. Theo Người, muốn cách mạng thành công thì phải tập hợp được sức mạnh vĩ đại của các tầng lớp nhân dân, cần có những phương pháp tập hợp lực lượng phù hợp trong từng giai đoạn cách mạng khác nhau, với từng đối tượng khác nhau.
Ngay khi về nước để lãnh đạo cách mạng sau 30 năm ở nước ngoài, ngày 1-2-1942, Người đã viết bài Nên học sử ta đăng trên Báo Việt Nam Độc lập, trong đó có đoạn: “Sử ta dạy cho ta bài học này: Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập, tự do. Trái lại, lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn. Vậy nay ta phải biết đoàn kết, đoàn kết mau, đoàn kết chắc chắn thêm lên mãi dưới ngọn cờ Việt Minh để đánh đuổi Tây - Nhật, khôi phục lại độc lập, tự do”. Trong Lời Kêu gọi tại buổi lễ mừng Quốc khánh 2-9-1955, Chủ tịch Hồ Chí Minh một lần nữa khẳng định vai trò quan trọng của đại đoàn kết: “…Đoàn kết là một lực lượng vô địch. Lực lượng đoàn kết đã giúp Cách mạng tháng Tám thành công. Lực lượng đoàn kết đã giúp kháng chiến thắng lợi. Lực lượng đoàn kết sẽ động viên nhân dân ta từ Bắc đến Nam đấu tranh để thực hiện hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ trong cả nước”.
Ngày 19-4-1946, trong Thư gửi Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam tại Pleiku, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định tất cả các dân tộc ở Việt Nam đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Sở dĩ trước kia các dân tộc xa cách nhau vì thiếu dây liên lạc và vì có kẻ chia rẽ. Ngày nay, nước Việt Nam là của chung tất cả mọi người. “Vậy nên tất cả dân tộc chúng ta phải đoàn kết chặt chẽ để giữ gìn nước non…”. Tư tưởng này đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc lại rất nhiều lần, trong nhiều bài viết, bài nói khác nhau.
Hồ Chí Minh không chỉ là một nhà tư tưởng với những tư duy mới, đặc sắc về đoàn kết, Người còn là một nhà thực hành lớn. Khi về nước lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đã quyết định thành lập Mặt trận Việt Minh để tập hợp tất cả các giới đồng bào không phân biệt chính kiến, dân tộc, tôn giáo… miễn là đều có chung mục đích đánh đuổi thực dân, phát-xít xâm lược, giành độc lập - tự do cho Tổ quốc, mang lại ấm no, hạnh phúc cho nhân dân.
Bằng tư tưởng và đường lối đại đoàn kết dân tộc đúng đắn, các tầng lớp nhân dân đã gạt bỏ những bất đồng, dị biệt để cùng mưu cầu lợi ích tối cao cho dân tộc. Cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945 là cuộc cách mạng vĩ đại của toàn dân bởi đã thu hút được đại bộ phận các tầng lớp nhân dân tham gia, từ các vị đại quan của triều đình, các nhân sĩ, trí thức, các đại điền chủ đến những người lao động bình dân.
Chính phủ Liên hiệp kháng chiến Việt Nam được thành lập ngày 2-3-1946 sau cuộc bầu cử Quốc hội khóa I ngày 6-1-1946 đã quy tụ rất nhiều những trí thức, nhiều vị bộ trưởng với các xu hướng chính trị khác nhau. Vì đại đoàn kết dân tộc, các nhà lãnh đạo Việt Minh - những người có công lao to lớn trong đấu tranh giành độc lập đã tự rút lui để nhường ghế cho người của các đảng phái khác, cho các nhân sĩ, trí thức ngoài Đảng.
Học Bác Hồ về đại đoàn kết dân tộc
Việt Nam nói chung, Đồng Nai nói riêng có nhiều dân tộc, tôn giáo. Ở Việt Nam không có xung đột sắc tộc và tôn giáo. Điều đó là nhờ ở chiều sâu văn hóa Việt Nam, song trong giai đoạn gần đây, đó còn là sự đóng góp và sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc, Đảng Cộng sản Việt Nam đã vận dụng sáng tạo vào thực tiễn cách mạng Việt Nam. Đường lối đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam về đoàn kết dân tộc đã đưa dân tộc Việt Nam vượt qua những khó khăn, thách thức, giành độc lập - tự do, thống nhất và xây dựng đất nước trong hòa bình.
Sau 40 năm đổi mới, Việt Nam đã tiến những bước rất dài trên tất cả các mặt của đời sống xã hội. Tất cả những thành tựu ấy được tạo nên bởi sức sáng tạo vĩ đại của nhân dân, được kết thành bởi tinh thần đoàn kết, sáng tạo dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Để tăng cường và phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, từ đổi mới đất nước đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đã ban hành rất nhiều chỉ thị, nghị quyết về tập hợp và chăm lo lợi ích cho các tầng lớp nhân dân.
Có thể khẳng định: Đại đoàn kết là sợi chỉ đỏ xuyên suốt của tư tưởng Hồ Chí Minh bởi Người thấu hiểu rằng đoàn kết thì thắng mà chia rẽ thì chết. Kết thúc buổi ra mắt Đảng Lao động Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Mục đích của Đảng Lao động Việt Nam có thể trong 8 chữ là: Đoàn kết toàn dân, phụng sự Tổ quốc”.
Phương châm của Đại hội XIV của Đảng là “Đoàn kết - dân chủ - kỷ cương - đột phá - phát triển”. Như vậy, đoàn kết được đặt ở vị trí trung tâm, vị trí đầu tiên trong giai đoạn phát triển mới. Một trong những quan điểm chỉ đạo được Đại hội XIV thông qua là “Khơi dậy mạnh mẽ truyền thống yêu nước, khát vọng phát triển, tinh thần đoàn kết…”.
Còn nhớ ngay khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, trong Bài nói chuyện tại Hội nghị Sản xuất cứu đói, Hồ Chí Minh chỉ rõ: “... Tục ngữ có câu: “Dân dĩ thực vi thiên”, nghĩa là dân lấy ăn làm trời, nếu không có ăn là không có trời. Lại có câu: “Có thực mới vực được đạo”, nghĩa là không có ăn thì chẳng làm được việc gì cả. Vì vậy, chính sách của Đảng và Chính phủ là phải hết sức chăm nom đến đời sống của nhân dân. Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi”.
Sở dĩ người dân tin và theo Đảng, bởi Đảng và Nhà nước đã ban hành và thực thi những chủ trương, chính sách đáp ứng lợi ích và nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Khi người dân có niềm tin yêu, chắc chắn nhân dân sẽ kết thành một khối vững chắc đoàn kết xung quanh Đảng và Nhà nước…
Cả cuộc đời mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm hết sức vì đại đoàn kết của các dân tộc, các tôn giáo. Trong bối cảnh hiện nay, khi các thế lực thù địch lợi dụng các vấn đề tôn giáo, dân tộc để chống phá sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc, Đảng và Nhà nước cần quan tâm cụ thể hơn đến vấn đề này. Đặc biệt, Nhà nước cần nhanh chóng thể chế hóa, cụ thể hóa các chủ trương của Đảng thành chính sách, pháp luật và nhanh chóng đưa các chính sách này đi vào cuộc sống. Cần quán triệt nguyên tắc nhất quán trong toàn hệ thống chính trị là tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng của công dân, tạo điều kiện cho các tôn giáo hoạt động theo quy định của pháp luật. Nghiêm cấm các hành vi lợi dụng tôn giáo để chống phá, đồng thời nghiêm cấm các hành vi miệt thị tôn giáo.
Để phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, trước hết, Đảng và Nhà nước phải ban hành và thực thi các chính sách đảm bảo lợi ích và nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Chăm lo phát triển kinh tế, xóa đói - giảm nghèo, phát triển hài hòa giữa các vùng miền, nhất là quan tâm đầu tư các công trình giao thông quan trọng để kết nối các vùng miền trong cả nước, trong đó phải đặc biệt chú ý đến các vùng còn khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Hồng Phúc
Nguồn Đồng Nai : https://baodongnai.com.vn/chinh-tri/202604/ai-doan-ket-dan-toc-theo-tu-tuong-ho-chi-minh-2b1006a/