Thời điểm này, người Jrai thường vào rừng hái lá, bắt các loại thủy sản ở sông suối để chế biến thành những món ăn dân dã. Những sản vật này không chỉ là nguồn thực phẩm quen thuộc trong bữa ăn hằng ngày mà còn thể hiện sự gắn bó mật thiết giữa con người với thiên nhiên.
Một trong những loại lá rừng được người Jrai ưa chuộng là lá cây ser. Đây là loại cây thân gỗ, thường mọc hoang trong rừng hoặc trên nương rẫy. Mùa khô, cây ser ra những chồi lá non màu xanh nhạt, được người dân xem như “lộc rừng”.
Đọt lá cây ser xanh mướt. Ảnh: R.H
Theo chân anh R’ô Lao (thôn Ama Rin 3, xã Ia Pa) vào rẫy hái lá ser, chúng tôi mới thấy việc hái loại lá này không hề đơn giản.
Muốn hái được chồi non phải leo lên cây, bám chắc các cành và giữ thăng bằng để không làm gãy nhánh. Sau khi hái, lá được mang về chế biến thành nhiều món ăn dân dã.
Anh Lao cho biết: Lá ser chỉ có vào mùa khô. Lá có thể nấu với thịt heo, thịt bò hoặc cá. Trước khi nấu, lá được rửa sạch, luộc sơ rồi chắt bỏ nước để giảm vị chát. Sau đó, thịt hoặc cá được kho chín, cho lá vào nấu cùng, nêm gia vị vừa ăn.
Ngoài ra, lá ser còn được nấu canh với kiến vàng và trứng kiến vàng. Khi thưởng thức, vị bùi của lá hòa cùng vị chua thanh và béo của trứng kiến tạo nên hương vị rất đặc trưng của ẩm thực núi rừng.
Nhờ hương vị riêng và cách chế biến đa dạng, lá ser được nhiều gia đình người Jrai ưa chuộng trong bữa ăn mùa khô. Những ngày này, tại chợ chiều Ia Mrơn (xã Ia Pa), lá ser được bày bán khá nhiều. Những bó lá non xanh mướt vừa hái từ rừng thu hút khá đông người mua.
Chị Rmah H’Đội (thôn Ama Rin 1, xã Ia Pa) cho hay: Trước đây, trên rẫy thường có cây ser. Tuy nhiên, hiện nay, cây ser trong tự nhiên ngày càng ít, nhiều người phải vào rừng xa tìm hái hoặc mua từ các địa phương khác mang ra chợ bán. Mỗi ngày, chị bán khoảng 30 bó lá ser, giá 15.000 đồng/bó.
Bên cạnh lá ser, lá dơnia cũng là nguyên liệu quen thuộc trong bữa ăn của người Jrai vào mùa khô. Loại cây này thường mọc ven sông, suối và ra đọt non vào thời điểm nắng nhiều. Lá có hình dạng khá giống lá mì nhưng mềm hơn khi còn non.
Món ăn từ lá dơnia được chế biến khá công phu. Sau khi hái về, lá được rửa sạch, giã hoặc vò cho mềm rồi ngâm nước qua đêm để giảm vị đắng, sau đó vắt bỏ nước. Khi nấu, lá thường được kết hợp với thịt heo, thịt bò; ngon nhất là nấu cùng tôm, tép hoặc cá sông phơi khô để tăng vị đậm đà.
Trong quá trình nấu, người chế biến phải giữ lửa đều và hạn chế khuấy đảo, nếu không món ăn dễ bị đắng. Lá cần chín từ từ trên lửa vừa để giữ được vị bùi và hương thơm tự nhiên.
Những cô gái Jrai hái đọt lá cây dơnia ở khu vực ven sông Ba. Ảnh: R.H
Không chỉ có lá rừng, mùa khô cũng là thời điểm người Jrai sống ven sông Ba tranh thủ khai thác thủy sản tự nhiên. Khi nước sông dần cạn, công việc nương rẫy tạm rảnh rỗi, người dân trong các làng lại rủ nhau xuống sông, suối bắt cá, cua, ốc.
Họ thường khai thác ở những đoạn thác ghềnh, nơi nước chảy qua các khe đá - khu vực tập trung nhiều thủy sản. Những sản vật bắt được thường được chế biến thành các món ăn đơn giản nhưng đậm hương vị núi rừng.
Cá sông Ba được anh R’ô Khung (thôn Voòng Boong, xã Pờ Tó) thả lưới bắt được. Ảnh: R.H
Anh R’ô Khung (thôn Voòng Boong, xã Pờ Tó) cho biết: Hiện nay, cá trên sông Ba khá nhiều. Thanh niên trong làng thường ra sông thả lưới hoặc lặn mò để bắt cá chép và nhiều loại cá khác.
Cá sông thường được nấu canh chua hoặc chế biến với kiến vàng, tạo nên những món ăn đặc trưng.
Nhờ nguồn thực phẩm tự nhiên từ rừng và sông suối, bữa ăn mùa khô của người Jrai trở nên phong phú hơn với những món ăn mang đậm hương vị núi rừng.
R'Ô HOK