Ảnh minh họa.
Nguồn án lệ là quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao trong vụ án tranh chấp giữa nguyên đơn là ông Trần Mạnh H và bị đơn là Công ty TNHH Đ.
Nội dung vụ án thể hiện, Công ty Đ được thành lập năm 2001 với 2 thành viên góp vốn, vốn điều lệ là 1 tỷ đồng.
GÓP 2,7 TỶ ĐỒNG NHƯNG KHÔNG ĐƯỢC CÔNG NHẬN TƯ CÁCH THÀNH VIÊN
Từ năm 2001 – 2003, ông Trần Mạnh H góp hơn 2,7 tỷ đồng vào công ty. Tuy nhiên, theo các đăng ký thay đổi doanh nghiệp các lần sau đó (lần 2,3,4,5) vào các năm 2006, 2010, 2012 thì không có tên ông H là thành viên công ty và vốn điều lệ công ty là 6 tỷ đồng.
Do đó, ông H khởi kiện, yêu cầu tòa án xác nhận ông là thành viên Công ty Đ; buộc Công ty Đ phải làm thủ tục để bổ sung tên ông là thành viên công ty.
Vụ án trải qua các cấp xét xử sơ thẩm, phúc thẩm và giám đốc thẩm. Quyết định giám đốc thẩm nêu rõ, theo quy định Biên bản họp Hội đồng thành viên Công ty ngày 22/3/2017, các bên chỉ xác nhận việc góp vốn mà không có nội dung nào xác nhận đây là số vốn góp để thành lập công ty hay nâng vốn điều lệ của công ty.
“Theo quy định thì vốn điều lệ, việc góp vốn điều lệ để trở thành thành viên công ty và việc góp vốn để kinh doanh là 2 vấn đề khác nhau. Các bên không có thỏa thuận, không đăng ký tăng vốn điều lệ. Nhưng tòa án xác định ông H góp hơn 2,7 tỷ đồng (chiếm 33,3% vốn điều lệ) là chưa đủ cơ sở. Như vậy, chỉ có cơ sở xác định ông H góp vốn kinh doanh, không phải góp vốn để tăng vốn điều lệ công ty.
Do đó, tòa án sơ thẩm và phúc thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện, xác nhận ông H là thành viên công ty với tỷ lệ vốn góp là 1/3 là không phù hợp. Khi giải quyết lại vụ án, nếu không có chứng cứ nào khác thì cần bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn”.
Từ án lệ số 78 cho thấy những rủi ro pháp lý mà nhà đầu tư cần lưu ý khi góp vốn vào doanh nghiệp.
Luật sư Vũ Ngọc Chi - Công ty Luật Tam Anh cho biết nguồn vốn để duy trì việc sản xuất, kinh doanh luôn là điều quan trọng, quyết định sự tồn vong của doanh nghiệp.
Đối với trường hợp góp vốn vào doanh nghiệp thì phần lớn vấn đề lại nằm ở người góp vốn (cá nhân) vì họ không phải là người làm kinh doanh thường xuyên, không nắm bắt được đầy đủ các quy định pháp luật về việc góp vốn nên bản thân người góp vốn ít nhiều bị thiệt thòi hơn so với doanh nghiệp.
XÁC ĐỊNH RÕ MỤC TIÊU GÓP VỐN
Để khắc phục vấn đề này, nhà đầu tư cần xác định rõ mục đích của việc góp vốn vì thông thường có 2 loại góp vốn.
Thứ nhất, góp vốn mà không là thành viên công ty. Với trường hợp này, góp vốn bản chất là việc vay hoặc huy động vốn để kinh doanh khi chưa đủ điều kiện theo quy định pháp luật về việc huy động vốn; hoặc đủ điều kiện mà không muốn viết là vay nợ.
Hình thức của loại góp vốn này thường bằng văn bản, có ghi nhận việc góp vốn vào công ty; có thể có thỏa thuận thêm để ưu đãi hơn cho người góp vốn.
Trường hợp này nếu có tranh chấp thì phần thua thiệt thường thuộc về người góp vốn (do dự án chậm triển khai, vướng mắc về tài chính dẫn đến công ty không thanh toán khi người nhà đầu tư yêu cầu …).
Để khắc phục yếu tố này và có căn cứ giải quyết khi xuất hiện tranh chấp thì hai bên cần ghi rõ thời hạn huy động vốn, mức lãi suất, chế tài khi thực hiện không đúng thời hạn.
“Nhiều khi đây cũng là hình thức hứa mua, hứa bán tài sản giữa người góp vốn và công ty chứ bản chất không phải là việc góp vốn. Tuy nhiên làm rõ được các mốc thời gian; quyền và nghĩa vụ của các bên ít nhiều cũng hạn chế được rủi ro về mặt pháp lý cho nhà đầu tư”, luật sư Chi nhấn mạnh.
Thứ hai, góp vốn với mong muốn trở thành thành viên của công ty. Đối với trường hợp này, cần có thỏa thuận của nhà đầu tư và công ty về việc thành lập công ty, xác nhận trong danh sách cổ đông/thành viên sáng lập; có tên trong Điều lệ công ty, có tên trong Giấy chứng nhận phần đăng ký vốn góp tương ứng với giá trị phần vốn góp/sổ đăng ký thành viên. Quyền và nghĩa vụ của người góp vốn phải được ghi nhận trong Điều lệ doanh nghiệp và tên được ghi nhận trong đăng ký hoạt động.
Trường hợp góp vốn khi doanh nghiệp đã thành lập xong cũng cần phải thực hiện theo quy trình và thời hạn chặt chẽ.
Đỗ Mến