Theo đó, nội dung của luật sửa đổi đã có bước chuyển lớn từ tiền kiểm sang quản lý rủi ro và hậu kiểm và ít nhiều điều chỉnh quảng cáo, bán thực phẩm trên các nền tảng số.
Giảm giấy phép chắc gì đã giảm rủi ro
Báo cáo thuyết trình của Bộ Y tế trong hồ sơ dự thảo luật, trong hơn 15 năm qua, tiền kiểm là trụ cột của quản lý an toàn thực phẩm tại Việt Nam. Doanh nghiệp muốn đưa một sản phẩm ra thị trường phải đi qua nhiều tầng hồ sơ, từ công bố chất lượng, điều kiện cơ sở đến xác nhận nội dung quảng cáo. Chi phí tuân thủ của nhà kinh doanh vì thế không nhỏ, đặc biệt với doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ, hộ kinh doanh. Thời gian kéo dài, thủ tục phức tạp và rủi ro hành chính trở thành rào cản gia nhập thị trường.
Sở An toàn thực phẩm TPHCM kiểm tra rà soát các cơ sở sản xuất, kinh doanh sữa và thực phẩm dinh dưỡng. Ảnh: TL
Vấn đề nằm ở chỗ, tiền kiểm nhiều không đồng nghĩa thị trường sạch hơn. Thực phẩm bẩn, hàng giả, quảng cáo thổi phồng công dụng vẫn xuất hiện đều đặn. Nghịch lý này phản ánh hạn chế căn bản của mô hình cũ, nguồn lực quản lý bị dàn trải cho giấy tờ hành chính, trong khi kiểm soát rủi ro thực tế lại mỏng. Kiểm tra hồ sơ có vẻ tạo cảm giác an toàn, nhưng lại khó phát hiện gian lận tinh vi trong sản xuất và phân phối. Thực tế nhiều vụ phát hiện thực phẩm bẩn, giả… thì khi kiểm tra hồ sơ, lại rất đầy đủ giấy tờ.
Điển hình như vụ Cơ quan Công an tỉnh Phú Yên cũ phát hiện cơ sở sản xuất cà phê Dạ Thảo đã sản xuất và bán ra thị trường hơn 17 tấn cà phê giả, sản phẩm không đạt tiêu chuẩn chất lượng như đã công bố, thực tế là cà phê bột giả được trộn từ nhiều thành phần không đảm bảo. Nghịch lý là trước khi bị phát hiện vi phạm, thương hiệu này từng được công nhận là sản phẩm OCOP 3 sao cấp huyện từ năm 2023. OCOP là chương trình “Mỗi xã một sản phẩm” được ngành nông nghiệp phát động nhiều năm qua, nhằm phát huy lợi thế của nông lâm thủy sản các địa phương.
Hay vụ kẹo Kera (tên đầy đủ là thực phẩm bổ sung Supergreens Gummies) bị cơ quan chức năng xác định là hàng giả do thành phần thực tế không đúng với công bố. Những vụ việc trên là hồi chuông cảnh báo rằng đã đến lúc các cơ quan chức năng cần mạnh tay hơn trong việc lập lại trật tự thị trường.
Dự thảo luật sửa đổi chọn cách tiếp cận khác. Thay vì “soi” mọi sản phẩm như nhau, luật phân loại theo mức độ rủi ro. Nhóm thực phẩm nguy cơ cao chịu yêu cầu chặt chẽ hơn, trong khi nhóm rủi ro thấp được đơn giản hóa thủ tục.
Nhưng then chốt vẫn là hậu kiểm và liệu các cơ quan chức năng có đủ nguồn lực cho hậu kiểm hay không? Nếu hậu kiểm đủ mạnh, giảm tiền kiểm sẽ giúp thị trường linh hoạt hơn mà rủi ro vẫn được kiểm soát. Ngược lại, nếu hậu kiểm yếu, cắt giảm thủ tục sẽ mở thêm “cánh cửa” cho thực phẩm bẩn tuôn ra thị trường. Thực tế hiện nay cho thấy năng lực hậu kiểm giữa các địa phương rất không đồng đều. Kiểm nghiệm, lấy mẫu, phân tích nguy cơ đòi hỏi nhân lực, ngân sách và dữ liệu, những thứ đang thiếu ở nhiều nơi.
Thực phẩm bẩn lên sàn số
Nếu trước đây an toàn thực phẩm gắn với nhà xưởng, cửa hàng, chợ truyền thống, thì nay điểm nóng đã dịch chuyển mạnh lên không gian số. Thực phẩm được quảng cáo dày đặc trên sàn thương mại điện tử, mạng xã hội và các buổi livestream bán hàng nhiều không đếm xuể. Một sản phẩm có hồ sơ công bố sơ sài vẫn có thể tiếp cận hàng trăm ngàn người chỉ trong vài giờ nhờ thuật toán của nền tảng số và người có ảnh hưởng.
Dự thảo luật đã đưa quảng cáo thực phẩm trên nền tảng số và vai trò của người có ảnh hưởng vào phạm vi điều chỉnh. Đây là bước tiến đáng kể, nhưng cũng là bài toán khó. Nguy cơ lớn là luật tiến bộ trên giấy, còn thực thi thì may rủi.
Tràn lan các quảng cáo thực phẩm chức năng thổi phồng công dụng, đặc biệt là trên nền tảng mạng xã hội. Ảnh chụp màn hình
Hơn nữa, khoảng trống lớn nhất lại ở chỗ các nền tảng số hưởng lợi trực tiếp từ quảng cáo, hoa hồng và lưu lượng truy cập, nhưng trách nhiệm pháp lý thường dừng ở mức gỡ bỏ khi có yêu cầu của cơ quan chức năng. Với hàng hóa thông thường, cách tiếp cận này có thể chấp nhận. Với thực phẩm, đặc biệt là nhóm nguy cơ cao, chứa đựng nhiều rủi ro.
Luật sửa đổi yêu cầu công khai hồ sơ công bố và hồ sơ quảng cáo, đồng thời tăng trách nhiệm giám sát nội dung nhưng nếu vẫn dựa chủ yếu vào thanh tra thủ công thì không cơ quan nào theo kịp hàng triệu nội dung quảng cáo phát sinh mỗi ngày trên mạng. Trong khi đó, chính nền tảng mới là nơi nắm dữ liệu, thuật toán và khả năng kiểm soát theo thời gian thực.
Vai trò của KOLs (Key Opinion Leader, tạm dịch là người dẫn dắt, định hướng dư luận) và người nổi tiếng cũng cần được nhìn lại đúng vai trò của họ trong kinh doanh thực phẩm. Khi một cá nhân có thể hỗ trợ bán hàng chục ngàn đơn hàng trong một buổi livestream, họ không còn đơn thuần là người chia sẻ trải nghiệm, mà đã tham gia trực tiếp vào hoạt động thương mại.
Yêu cầu công khai tài trợ hay kê khai thu thuế của cơ quan thuế là cần thiết như hiện nay là cần thiết, nhưng chưa đủ nếu trách nhiệm pháp lý không tương xứng với mức độ ảnh hưởng khi xảy ra rủi ro do thực phẩm bẩn.
Giảm tiền kiểm là cần thiết, nhưng không phải là chìa khóa vạn năng. Luật chỉ phát huy hiệu lực khi hậu kiểm đủ mạnh, trách nhiệm trên không gian số được xác lập rõ ràng và mức phạt phải cao hơn chi phí tuân thủ rất nhiều may ra mới đủ sức răn đe.
Hồng Văn