Nhiều công trình mang tầm vóc lịch sử
Một trong những cơ sở, tiền đề mang tính quyết định để Việt Nam hiện thực hóa tầm nhìn chiến lược là những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử sau 40 năm Đổi mới dưới sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng.
Thời gian qua, hàng loạt quyết sách mang tính “xoay chuyển tình thế, chuyển đổi trạng thái” đã được Đảng, Nhà nước ban hành, góp phần “biến nguy thành cơ”, tạo bước chuyển căn bản trong điều hành, phát triển đất nước. Riêng trong giai đoạn 2021 - 2025, tăng trưởng GDP bình quân của nước ta đạt khoảng 6,3%/năm, thuộc nhóm cao hàng đầu khu vực (tăng trưởng GDP năm 2025 đạt 8,02%). Quy mô GDP tăng từ 346 tỷ USD năm 2020 lên hơn 510 tỷ USD năm 2025, xếp thứ 32 thế giới, thứ 4 các nước ASEAN; GDP bình quân đầu người năm 2025 đạt hơn 5.000 USD, đưa Việt Nam gia nhập nhóm các nước thu nhập trung bình cao. FDI tiếp tục là điểm sáng, với 185 tỷ USD đăng ký giai đoạn 2021 - 2025, phản ánh niềm tin của nhà đầu tư quốc tế...
Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, trong nhiều năm liên tiếp, Việt Nam nằm trong nhóm các nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao của thế giới. Ngay cả trong bối cảnh kinh tế toàn cầu bị “đứt gãy” và diễn biến phức tạp, nền kinh tế trong nước vẫn duy trì được đà tăng trưởng ổn định, qua đó cho thấy năng lực thích ứng linh hoạt và sức chống chịu vững vàng trước các “cú sốc” từ bên ngoài. Bên cạnh đó, tiềm lực quốc phòng, an ninh được củng cố, tăng cường; độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia được giữ vững...
Đặc biệt, thời gian gần đây, nhiều công trình quan trọng, chiến lược, trong đó có những công trình “lớn chưa từng có” (từ kết cấu hạ tầng giao thông chiến lược đến hạ tầng số, hạ tầng năng lượng...) được đầu tư và hoàn thành với chất lượng ngày càng nâng cao. Những dự án trọng điểm mang tầm vóc lịch sử đã khẳng định Việt Nam không chỉ nói về khát vọng phát triển “vươn xa ra biển lớn, tiến sâu vào lòng đất, bay cao lên vũ trụ” mà đang hiện thực hóa khát vọng ấy bằng những hành động cụ thể.
Điển hình là mạng lưới cao tốc Bắc - Nam đang được hoàn thiện với tốc độ “thần tốc”. Đến hết năm 2025, Việt Nam đã hoàn thành hơn 3.200km đường bộ cao tốc và hơn 1.700km đường ven biển, vượt mục tiêu Đại hội XIII của Đảng đã đề ra. Sau 3 đợt khởi công, khánh thành các công trình, dự án lớn đồng loạt trên cả nước trong năm 2025, đến đầu năm 2026, chúng ta đã có 564 công trình, dự án với tổng mức đầu tư trên 5,14 triệu tỷ đồng; đã có khoảng 140 công trình lớn hoàn thành, đưa vào khai thác, sử dụng hiệu quả. Bên cạnh đó là các dự án năng lượng trọng điểm, như đường dây 500kV mạch 3 Quảng Bình - Hưng Yên; Nhiệt điện Thái Bình 2, Điện khí LNG Nhơn Trạch 3&4, Thủy điện Hòa Bình mở rộng...
Cùng với dự án sân bay Long Thành đang dần hoàn thiện, chúng ta cũng đã khởi công, đặt những viên gạch đầu tiên cho những công trình trọng điểm, như siêu dự án sân bay Gia Bình; các công trình “vươn ra biển lớn” như cảng Hòn Khoai, Khu đô thị Cần Giờ; các dự án đường sắt đô thị, kết nối quốc tế, chuẩn bị xây dựng đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam; triển khai các dự án tầm nhìn thế kỷ như Trục Đại lộ cảnh quan sông Hồng... Nói như Thủ tướng Phạm Minh Chính, đây là những công trình của tương lai, với tầm nhìn “vượt thời đại”, là những tiền đề, nền tảng quan trọng cho hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại.
Điều đó không chỉ khẳng định tầm nhìn chiến lược trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của Đảng, Nhà nước; năng lực tổ chức thực hiện của các Bộ, ngành, địa phương, mà còn khẳng định bước tiến mạnh mẽ trong xây dựng hạ tầng chiến lược của đất nước; thể hiện tầm vóc, bản lĩnh, trí tuệ của con người Việt Nam.
Các động lực mới cho tăng trưởng bứt phá
Một yếu tố quan trọng khác giúp củng cố triển vọng phát triển của Việt Nam chính là sự hình thành nhiều động lực tăng trưởng mới. Trong đó, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được triển khai quyết liệt, từng bước hình thành nền tảng cho phát triển nhanh và bền vững. Chuyển đổi số quốc gia tiếp tục đạt những kết quả đáng ghi nhận. Các nền tảng số quốc gia quan trọng như Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Cổng Dịch vụ công quốc gia, ứng dụng định danh điện tử VNeID và nhiều nền tảng chuyên ngành đã được đưa vào vận hành ổn định, bước đầu phát huy hiệu quả.
Ngoài ra, Đề án 06 đã tạo thay đổi mang tính căn bản trong cung cấp dịch vụ công, tạo tiền đề quan trọng để triển khai dịch vụ công trực tuyến phục vụ người dân, doanh nghiệp, góp phần đẩy mạnh phát triển Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số.
Đáng chú ý, việc Trung tâm Đổi mới sáng tạo quốc gia và Trung tâm Dữ liệu quốc gia đi vào hoạt động, thể hiện cách tiếp cận mới trong tổ chức, huy động, điều phối nguồn lực đổi mới sáng tạo ở tầm quốc gia; đồng thời hình thành một số tổ chức khoa học công nghệ đạt chuẩn quốc tế và thúc đẩy các dự án, hợp tác trong lĩnh vực công nghệ mới, công nghệ lõi. Không chỉ vậy, năm 2025, Việt Nam được xếp hạng 44/139 quốc gia, nền kinh tế về Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu.
Những kết quả đó là minh chứng rõ ràng cho tiềm lực và dư địa phát triển của đất nước, đồng thời củng cố cơ sở để khẳng định: mục tiêu vươn tới trình độ phát triển cao hơn trong những thập niên tới là có cơ sở, khả thi, là sự tiếp nối tất yếu của một quá trình phát triển liên tục và có nền tảng vững chắc.
Cục diện đối ngoại ngày càng rộng mở
Trên nền tảng nội lực, không gian phát triển của đất nước tiếp tục được mở rộng thông qua việc đẩy mạnh công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế. Trong đó, quan hệ với các đối tác chiến lược, đối tác toàn diện được mở rộng và đi vào chiều sâu. Đến nay, sau 40 năm Đổi mới, Việt Nam đã tạo dựng cục diện đối ngoại rộng mở và thuận lợi hơn bao giờ hết cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Việt Nam trở thành một trong số ít các quốc gia trên thế giới thiết lập quan hệ ngoại giao với tất cả các nước thành viên Liên hợp quốc.
Đặc biệt, hội nhập quốc tế và ngoại giao kinh tế đã tranh thủ được môi trường quốc tế thuận lợi, huy động nguồn lực bên ngoài, đưa Việt Nam trở thành mắt xích quan trọng trong kinh tế thế giới và ngày càng gia tăng vị thế trong chuỗi sản xuất toàn cầu. Trong đó, riêng năm 2025, Việt Nam ký kết gần 350 thỏa thuận và cam kết hợp tác, qua đó thu hút nguồn lực, mở rộng thị trường và nâng cao sức chống chịu của nền kinh tế. Vai trò, vị thế và trách nhiệm quốc tế của Việt Nam tiếp tục được khẳng định trong các cơ chế đa phương khu vực và toàn cầu.
Trong bài viết “Ngoại giao Việt Nam - 80 năm xây dựng, trưởng thành cùng đất nước”, Chủ tịch nước Lương Cường nhấn mạnh: “Từ chỗ chỉ có quan hệ kinh tế - thương mại với gần 30 nước và vùng lãnh thổ, đến nay ta đã có quan hệ kinh tế - thương mại với hơn 230 nước và vùng lãnh thổ; tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu đạt gần 800 tỷ USD, gia nhập nhóm 20 nước có quy mô thương mại lớn nhất thế giới; thu hút được hơn 500 tỷ USD vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), trở thành nước đang phát triển thu hút đầu tư nước ngoài hàng đầu thế giới”. Sự phát triển của hoạt động sản xuất và xuất khẩu không chỉ mang lại nguồn thu ngoại tệ quan trọng cho nền kinh tế, mà còn góp phần thúc đẩy quá trình chuyển giao công nghệ, nâng cao năng lực quản trị và cải thiện chất lượng nguồn nhân lực...
Nhìn thẳng thách thức, vững bước phát triển
Nhìn ra thế giới, chúng ta có thể khẳng định, cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế của Việt Nam đang ngày một củng cố và nâng cao. Việt Nam được biết đến không chỉ là dân tộc anh hùng trong đấu tranh giành độc lập, mà còn là đối tác tin cậy, quốc gia yêu chuộng hòa bình và đang vươn lên mạnh mẽ.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu to lớn trên, Đảng ta cũng thẳng thắn chỉ ra những hạn chế, bất cập trong quá trình phát triển. Những vấn đề như hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường còn chậm; năng suất, chất lượng, hiệu quả, khả năng chống chịu và sức cạnh tranh của nền kinh tế chưa cao; nguy cơ tụt hậu về công nghệ trong bối cảnh cuộc cách mạng khoa học - công nghệ đang diễn ra với tốc độ rất nhanh, hay những “điểm nghẽn” trong thể chế, chính sách, pháp luật... đều được Đảng ta nhận diện rõ.
Những thách thức đặt ra đối với nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn tới sẽ còn nhiều vấn đề cần giải quyết. Nhưng chính việc nhìn thẳng vào những thách thức ấy sẽ giúp Việt Nam chủ động xây dựng và triển khai những giải pháp, đột phá chiến lược đúng hướng, kịp thời tháo gỡ “điểm nghẽn”, tạo động lực mạnh mẽ để đất nước tiếp tục bứt phá, qua đó hiện thực hóa các mục tiêu phát triển đã được Đại hội XIV của Đảng xác định trong giai đoạn tới.
Vân Anh