Từ phụ phẩm rừng trồng thành hàng hóa xuất khẩu
Trước đây, sau mỗi mùa khai thác rừng trồng hoặc cây ăn quả lâu năm, gỗ chủ yếu được bán dưới dạng nguyên liệu cho các cơ sở chế biến. Phần cành nhánh, gỗ nhỏ thường bị bỏ lại hoặc chỉ dùng làm chất đốt trong gia đình. Trong khi đó, trên thị trường quốc tế, đặc biệt tại các nước châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc nhu cầu sử dụng than hoa không khói cho nhà hàng, tiệc nướng và một số ngành công nghiệp nhẹ ngày càng tăng.
Cán bộ, công nhân Công ty trách nhiệm hữu hạn Sản xuất và Thương mại Văn An kiểm tra sản phẩm than hoa trước khi xuất kho.
Nhận thấy cơ hội này, một số doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh đã mạnh dạn đầu tư hệ thống lò đốt yếm khí để sản xuất than hoa xuất khẩu. Khác với than truyền thống, than hoa xuất khẩu phải đáp ứng những tiêu chuẩn nghiêm ngặt như cháy đều, nhiệt lượng cao, ít tro, không mùi, không khói và không sử dụng hóa chất trong quá trình xử lý. Từ sản phẩm quen thuộc trong đời sống, than hoa được “nâng cấp” thành hàng hóa xuất khẩu với quy trình sản xuất chặt chẽ.
Một trong những doanh nghiệp tiên phong sản xuất than hoa không khói xuất khẩu là Công ty trách nhiệm hữu hạn HATA Bắc Giang Việt Nam, trụ sở tại xã Lục Nam của ông Nguyễn Văn Hiếu (sinh năm 1977). Sau thời gian lao động tại Hàn Quốc, khi trở về nước, ông Hiếu được giới thiệu về công nghệ sản xuất than hoa không khói - một ngành nghề còn khá mới ở trong nước nhưng phù hợp với điều kiện vùng trồng rừng và cây ăn quả ở quê hương.
Năm 2016, ông thuê đất thành lập doanh nghiệp chuyên sản xuất, chế biến than hoa xuất khẩu sang thị trường Hàn Quốc. Khi tích lũy đủ vốn, kinh nghiệm ông Hiếu đầu tư mua đất tại xã Lục Sơn, gần vùng nguyên liệu để mở nhà xưởng tập trung sản xuất. Nguyên liệu sản xuất chủ yếu được tận dụng từ phụ phẩm rừng trồng và cây ăn quả lâu năm như: Nhãn, vải, mít, bưởi, bạch đàn… Theo ông Hiếu, yếu tố quan trọng nhất trong sản xuất than hoa xuất khẩu là chất lượng và giá thành sản phẩm. Quá trình sản xuất trải qua các công đoạn: Tuyển chọn nguyên liệu, nhiệt phân (đốt trong điều kiện thiếu ô-xy), làm nguội tự nhiên, phân loại và đóng gói.
Khác với than hoa truyền thống, sản phẩm đạt tiêu chuẩn xuất khẩu phải có độ cháy bền, lượng tro thấp, không lẫn tạp chất, không khói và không có hóa chất bảo quản. Sản phẩm được đóng gói theo kích thước từ 6-8 cm/viên, đường kính 3-5 cm/viên, bảo quản trong túi ni-lông và thùng giấy bìa cứng, sau 15-20 ngày vận chuyển bằng đường biển là đến tay người tiêu dùng. Nhờ chú trọng quy trình tuyển chọn nguyên liệu đầu vào cho đến khâu sơ chế, đóng gói, chất lượng than hoa do Công ty sản xuất được bạn hàng đánh giá cao. Trung bình mỗi tháng, doanh nghiệp xuất khẩu từ 110 - 130 tấn, doanh thu khoảng 40 tỷ đồng/năm.
Gia tăng giá trị cây trồng
Không chỉ mang lại lợi ích cho doanh nghiệp, sản xuất than hoa xuất khẩu là hướng đi phù hợp với phát triển kinh tế tuần hoàn, góp phần giải quyết việc làm cho lao động nông thôn. Do tính chất công việc, các khâu thu mua nguyên liệu, sơ chế, vận hành lò, phân loại và đóng gói đều cần nhân công thường xuyên. Nhiều hộ dân ở khu vực có rừng trồng có thêm thu nhập từ việc cung cấp nguyên liệu hoặc làm việc tại các cơ sở sản xuất.
Tại Công ty trách nhiệm hữu hạn Sản xuất và Thương mại Văn An, xã Lục Sơn, hàng chục công nhân đang phân loại, đóng gói và kiểm tra sản phẩm than hoa trước khi xuất xưởng. Bà Nguyễn Thị Phấn, nhà ở thôn Bãi Cả, xã Lục Sơn gắn bó với doanh nghiệp này nhiều năm chia sẻ: “Công việc không phải đi lại nhiều phù hợp với sức khỏe, lại gần nhà nên tôi vẫn có thời gian quán xuyến việc nhà, thêm thu nhập để trang trải cuộc sống”.
Trao đổi với ông Nguyễn Văn Tới, đại diện Công ty trách nhiệm hữu hạn Sản xuất và Thương mại Văn An được biết, gần 40 lao động làm việc tại đây đều là lao động địa phương. Nếu công việc đều, mỗi lao động thu nhập từ 7-8 triệu đồng/tháng. Về quy trình sản xuất, nguồn nguyên liệu được thu mua từ các vùng trồng cây ăn quả và rừng trồng trong tỉnh và khu vực lân cận, sau đó đưa về xử lý qua hệ thống lò hầm than chuyên dụng trong khoảng 7 ngày. Tuy vậy, sản phẩm ban đầu mới ở dạng than thô phải tiếp tục gọt tỉa, phân loại để lựa chọn những viên đạt tiêu chuẩn xuất khẩu. Năm 2025, doanh thu trước thuế của doanh nghiệp đạt hơn 35 tỷ đồng, nộp ngân sách Nhà nước hơn 1,3 tỷ đồng. Ngoài ra, doanh nghiệp còn tích cực tham gia các hoạt động an sinh xã hội do tỉnh và địa phương phát động.
Theo Chi cục Kiểm lâm, toàn tỉnh hiện có 727 cơ sở chế biến lâm sản, 37 đơn vị xuất khẩu trực tiếp sản phẩm gỗ ra nước ngoài, trong đó chỉ có 4 cơ sở xuất khẩu than hoa. Dưới sự quản lý của ngành chức năng và chính quyền địa phương, hoạt động của các cơ sở chế biến ngày càng nền nếp, góp phần nâng giá trị xuất khẩu lâm sản năm 2025 đạt khoảng 115 triệu USD. So với gỗ bóc hay đồ mỹ nghệ, quy mô ngành than hoa xuất khẩu ở Bắc Ninh chưa lớn song đây là phân khúc ít cạnh tranh trực tiếp với các ngành chế biến gỗ truyền thống, đồng thời tận dụng được phụ phẩm rừng trồng. Các doanh nghiệp cho rằng, để ngành than hoa xuất khẩu phát triển bền vững cần tiếp tục đầu tư công nghệ, cải tiến lò đốt theo hướng tiết kiệm nhiên liệu và giảm phát thải. Ngoài ra, các đơn vị cũng cần quan tâm xây dựng thương hiệu, mở rộng thị trường, giảm phụ thuộc vào các quốc gia nhập khẩu truyền thống. Tăng cường liên kết theo chuỗi giá trị nhằm tạo vùng nguyên liệu ổn định, cung ứng sản phẩm chất lượng đến khách hàng.
Từ một sản phẩm quen thuộc trong bếp lửa nông thôn, than hoa đang từng bước trở thành mặt hàng xuất khẩu mang lại giá trị kinh tế. Lựa chọn con đường khác với số đông, các doanh nghiệp sản xuất than hoa ở Bắc Ninh đang khẳng định trong ngành lâm nghiệp, không chỉ gỗ bóc hay đồ mỹ nghệ mới tạo ra giá trị, mà ngay cả những phụ phẩm tưởng chừng bỏ đi cũng có thể trở thành hàng hóa nếu được khai thác đúng hướng.
Bài, ảnh: Mai Toan