Quy mô học sinh tăng nhanh, áp lực lớn về cơ sở vật chất và giáo viên
Theo Đề án, việc đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, bố trí giáo viên được đặt ra trong bối cảnh quy mô học sinh tăng nhanh, yêu cầu triển khai chương trình giáo dục phổ thông mới ngày càng cao, trong khi nhiều cơ sở giáo dục vẫn còn thiếu cơ sở vật chất; quỹ đất hạn chế và đội ngũ giáo viên chưa đáp ứng đủ về số lượng, cơ cấu.
Ảnh minh họa.
Thống kê năm học 2025 - 2026 cho thấy, toàn tỉnh có 1.214 cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông, trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên, trung tâm giáo dục chuyên biệt và bảo trợ xã hội với 880.476 trẻ, học sinh và trên 25.300 lớp học.
Mặc dù tỷ lệ kiên cố hóa trường lớp đạt 98%, cao hơn mức trung bình cả nước và 94,5% trường đạt chuẩn Quốc gia, song vẫn còn một số cơ sở giáo dục còn thiếu diện tích đất; nhiều trường, điểm trường chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; chưa đủ 1 phòng học/1 lớp; thiếu phòng học bộ môn, nhà đa năng, khu thể chất và các hạng mục phụ trợ…
Về đội ngũ, toàn ngành hiện có hơn 51 nghìn cán bộ, giáo viên, nhân viên đang làm việc. Song so với chỉ tiêu được giao vẫn còn thiếu trên 1.200 biên chế và gần 800 vị trí hợp đồng, gây áp lực lớn cho các cơ sở giáo dục.
Phấn đấu xóa phòng học tạm, bố trí đủ định mức giáo viên
Trước thực trạng đó, giai đoạn 2026 - 2030, tỉnh Bắc Ninh xác định tập trung nguồn lực củng cố, phát triển hệ thống mạng lưới cơ sở giáo dục công lập đáp ứng đáp ứng nhu cầu học tập của Nhân dân; huy động các nguồn lực đầu tư xây dựng cơ sở vật chất trường học theo hướng hiện đại, đồng bộ, chuẩn hóa.
Phấn đấu đến năm học 2030 - 2031, 100% các trường mầm non, phổ thông, trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên có đủ diện tích đất để xây dựng các hạng mục công trình đạt chuẩn mức độ 2 và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Đầu tư xây dựng các trường mầm non, phổ thông, trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên có đủ 1 phòng/1 lớp; xóa toàn bộ phòng học tạm, phòng học nhờ, phòng học xuống cấp; có đủ phòng học bộ môn, phòng hành chính quản trị, phòng hỗ trợ học tập, nhà đa năng, phòng hỗ trợ học tập, phòng phục vụ sinh hoạt, công trình vệ sinh, sân tập thể thao riêng biệt cho từng bộ môn.
Tỷ lệ trường chuẩn Quốc gia mức độ 2 đạt trên 55%; củng cố, phát triển các trường phổ thông dân tộc nội trú để đáp ứng nhu cầu học tập của Nhân dân vùng dân tộc thiểu số và miền núi; hàng năm, tuyển khoảng 5% học sinh người dân tộc thiểu số học trong trường phổ thông dân tộc nội trú.
Cùng với đó, bố trí đủ định mức giáo viên theo quy định. Dự kiến đến năm học 2030 - 2031, toàn tỉnh bố trí 48.312 giáo viên các bậc học; so với số biên chế giáo viên được giao năm 2025 tăng 5.968 giáo viên.
Triển khai nhiều giải pháp để phát triển trường học hiện đại, chuẩn hóa và nâng cao chất lượng giáo viên
Để đạt mục tiêu đề ra, Bắc Ninh tập trung triển khai đồng bộ nhiều giải pháp. Trong đó, trọng tâm là tăng cường vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp; nghiên cứu đề xuất cơ chế hỗ trợ để thu hút đầu tư phát triển các trường mầm non, phổ thông tư thục trên địa bàn, giảm áp lực cho công lập. Hỗ trợ có mục tiêu từ ngân sách cấp tỉnh để đầu tư xây dựng cơ sở vật chất các trường mầm non, tiểu học, trung học cơ sở công lập đối với cấp xã, phường.
Bảo đảm quỹ đất cho việc triển khai thực hiện; ưu tiên bố trí đủ quỹ đất cho cơ sở giáo dục và đào tạo trong quy hoạch tỉnh, quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh; ưu tiên bố trí trụ sở công dôi dư để thu hút các dự án đầu tư trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo.
Cùng với đó, huy động các nguồn lực đầu tư xây dựng cơ sở vật chất trường học; tăng cường hoạt động của các Hội khuyến học, các đoàn thể trong và ngoài nhà trường nhằm tạo thêm nguồn lực phát triển giáo dục. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền nhằm tạo sự đồng thuận trong xã hội.
Đề án cũng nhấn mạnh việc phát triển đội ngũ giáo viên; tiếp tục rà soát, bố trí, sắp xếp đội ngũ giáo viên. Tăng cường dự báo, đổi mới nâng cao chất lượng công tác quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng, kiện toàn đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục. Đề xuất chính sách điều tiết số lượng và cơ cấu đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục cho phù hợp với yêu cầu phát triển của tỉnh.
TS