Không ít ý kiến băn khoăn liệu hành vi này có vi phạm quy định của pháp luật hay không, quyền riêng tư của người bệnh được bảo đảm đến đâu, và ranh giới giữa chia sẻ thông tin với xâm phạm đời sống cá nhân được xác định như thế nào?
Trao đổi với phóng viên Báo Sức khỏe và Đời sống, TS. LS Đặng Văn Cường (Đoàn Luật sư TP Hà Nội) cho rằng, việc chia sẻ kiến thức chăm sóc, bảo vệ sức khỏe trên mạng xã hội là xu hướng tích cực, góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng. Thực tế, hoạt động livestream trong quá trình khám, chữa bệnh tại một số cơ sở y tế tư nhân cũng đã xuất hiện trong thời gian gần đây.
Tuy nhiên, việc phát trực tiếp một ca đỡ đẻ là trường hợp rất nhạy cảm và chưa từng ghi nhận phổ biến. Nếu không có sự đồng ý rõ ràng của sản phụ và gia đình, hành vi này có thể xâm phạm quyền riêng tư, thậm chí vi phạm các quy định của pháp luật.
Hình ảnh một bác sĩ livestream khi đỡ đẻ cho sản phụ khiến cộng đồng mạng quan tâm. Ảnh chụp màn hình.
Việc sử dụng thông tin, hình ảnh của người khác, đặc biệt là những hình ảnh mang tính nhạy cảm, phải được sự đồng ý của chính người có hình ảnh và không được gây ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội.
Theo quy định tại Điều 32 Bộ luật Dân sự năm 2015, cá nhân có quyền đối với hình ảnh của mình; mọi việc sử dụng hình ảnh đều phải được người đó cho phép. Trường hợp sử dụng hình ảnh vì mục đích thương mại, bên sử dụng còn phải trả thù lao cho người có hình ảnh, trừ khi các bên có thỏa thuận khác.
Vì vậy, khi bác sĩ thực hiện livestream có sử dụng hình ảnh bệnh nhân, bắt buộc phải có sự đồng ý của người bệnh. Nếu việc sử dụng hình ảnh nhằm mục đích thương mại, bác sĩ hoặc cơ sở y tế cũng phải thực hiện nghĩa vụ trả thù lao theo quy định.
Dưới góc độ pháp lý, theo luật sư Cường, hiện nay chưa có quy định cụ thể về việc cấm livestream trong lúc thăm khám bệnh nhân. Tuy nhiên, việc livestream cần phải tôn trọng quyền nhân thân của bệnh nhân, bảo đảm đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình của họ, và chỉ được thực hiện khi bệnh nhân đồng ý.
Ngoài ra, việc livestream không được làm ảnh hưởng đến quá trình thăm khám, điều trị, bởi bác sĩ cần duy trì sự tập trung chuyên môn cao để bảo đảm chất lượng và hiệu quả công việc.
Trong quá trình sinh nở, sản phụ thường phải chịu nhiều đau đớn, có thể kêu la; nếu những âm thanh, hình ảnh này – đặc biệt là các chi tiết nhạy cảm – bị ghi lại và phát tán trên mạng xã hội thì rõ ràng không phù hợp và khó có sản phụ nào mong muốn.
Hơn nữa, sinh đẻ luôn tiềm ẩn những rủi ro nhất định, đúng như quan niệm dân gian “người chửa là cửa mả”. Trong thời điểm này, cả sản phụ và gia đình đều ở trạng thái căng thẳng, lo lắng. Vì vậy, hoạt động đỡ đẻ đòi hỏi bác sĩ phải tập trung cao độ, xử lý kịp thời các tình huống chuyên môn để bảo đảm an toàn cho mẹ và bé.
Do đó, việc phát trực tiếp quá trình đỡ đẻ hoặc mổ đẻ lên mạng xã hội không chỉ tiềm ẩn nguy cơ lộ lọt hình ảnh, thông tin nhạy cảm, trái với quy định, mà còn có thể làm phân tán sự tập trung của ekip y tế, từ đó ảnh hưởng đến sức khỏe, thậm chí tính mạng của sản phụ và trẻ sơ sinh.
Hình ảnh sản phụ là dữ liệu nhạy cảm, không thể tùy tiện đăng tải
TS. LS Đặng Văn Cường cũng cho hay, việc bảo vệ thông tin, hình ảnh của cá nhân không chỉ được quy định trong Bộ luật Dân sự mà còn được điều chỉnh bởi nhiều văn bản pháp luật khác, trong đó có quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân. Theo đó, các thông tin liên quan đến sức khỏe, đời sống riêng tư có thể được xác định là dữ liệu cá nhân nhạy cảm và được pháp luật bảo vệ nghiêm ngặt. Mọi hành vi xâm phạm đến loại dữ liệu này đều tiềm ẩn nguy cơ gây hậu quả nghiêm trọng và có thể bị xử lý bằng các chế tài tương ứng.
TS. LS Đặng Văn Cường. Ảnh: NVCC.
Pháp luật cũng quy định rõ, dữ liệu cá nhân là thông tin dưới dạng số hoặc dạng khác có thể xác định hoặc giúp xác định một cá nhân cụ thể, bao gồm dữ liệu cá nhân cơ bản và dữ liệu cá nhân nhạy cảm. Việc thu thập, xử lý dữ liệu cá nhân phải đúng phạm vi, mục đích cụ thể, rõ ràng và tuân thủ quy định của pháp luật. Đồng thời, các hành vi như xử lý dữ liệu trái phép, sử dụng dữ liệu cá nhân để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật hoặc xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân đều bị nghiêm cấm.
Từ đó có thể thấy, việc bác sĩ tự ý sử dụng hình ảnh, thông tin của bệnh nhân, đặc biệt là sản phụ trong quá trình đỡ đẻ, để đăng tải lên mạng xã hội khi chưa có sự đồng ý là hành vi vi phạm pháp luật. Nếu bị khiếu kiện, cá nhân vi phạm có thể bị xử phạt vi phạm hành chính, với mức phạt tiền từ 10 đến 20 triệu đồng đối với hành vi cung cấp, chia sẻ hoặc sử dụng thông tin số nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác.
Trong trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng, người vi phạm còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về các tội danh như làm nhục người khác (Điều 155), vu khống (Điều 156) hoặc lợi dụng quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước (Điều 331) theo quy định của Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017). Nếu nội dung phát tán mang tính chất đồi trụy, người thực hiện còn có thể bị xử lý về tội truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy.
"Do đó, các cơ sở y tế cần xây dựng và thực hiện nghiêm các quy định nội bộ nhằm bảo vệ dữ liệu cá nhân của người bệnh, đặc biệt là các thông tin, hình ảnh nhạy cảm. Đồng thời, cần kiểm soát chặt chẽ hoạt động sử dụng, khai thác thông tin trong quá trình khám, chữa bệnh, tránh tình trạng lạm dụng để đăng tải trái phép, gây ảnh hưởng tiêu cực đến dư luận xã hội cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của công dân", TS. LS Đặng Văn Cường nhấn mạnh.
Cũng trao đổi về vấn đề này, ông Mai Trọng Hưng, Giám đốc Bệnh viện Phụ sản Hà Nội cho biết, theo quy định hiện hành chưa có văn bản nào cấm việc livestream trong quá trình thăm khám, điều trị. Tuy nhiên, việc thực hiện phải bảo đảm tuân thủ pháp luật, không xâm phạm các yếu tố nhạy cảm, đồng thời tuyệt đối không để lộ hình ảnh, danh tính và thông tin cá nhân của người bệnh.
Quỳnh Mai