Bạch mã trở về

Bạch mã trở về
2 giờ trướcBài gốc
Đêm cuối năm gió bấc đi hoang gào rú trên đỉnh núi, lộn nhào giữa không trung rồi quét qua cánh đồng trong thung lũng. Nằm nghe gió, người mất ngủ thấy đủ mùi rét buốt. Nhưng hình như trong một khoảnh khắc nào đấy lúc thinh lặng, có tiếng chân ngựa bước dồn về phía ngôi đền. Có thể lắm, bạch mã của tướng quân năm ấy đã về. Qua khe cửa, hơi thở của chú ngựa biến thành làn sương xám vờn quanh bếp lửa khuya. Người giữ đền vẫn thức. Lửa bập bùng lúc tung hoa rực rỡ in lên tường đá, lúc như cuộn lại thành vòng lớn, xoay tròn bốc lên cao vàng chói khác thường. Một thảm hoa đủ màu bên sườn núi bừng sáng trong đêm. Người giữ đền mở cửa, ôm lấy cổ bạch mã, vùi mặt vào bờm nó thổn thức. Con ngựa liếm lên tóc người đàn ông, rồi bước đến gần bếp lửa, đứng im trong vòng tay người giữ đền, bình thản hí lên một tiếng vang dội. Cả vùng rộng lớn đêm ấy đều biết ông ngựa đã về, mỗi bé trai đều sẽ mơ một giấc mơ thành dũng sĩ bảo vệ quê nhà.
- Sao lại gọi là núi Thú hả bà? Tôi rúc vào nách bà hỏi. Bà nội đã gần trăm tuổi nói rất khẽ: Trên ấy ngày xưa có đủ loài muông thú. Chồn, beo, gấu, cáo... đủ cả. Sau này có cả Ngài nữa. Nhờ thú hoang nhiều mà rừng khắp thung lũng này còn. Không kẻ nào dám chặt cây trên núi. Hàng trăm năm núi Thú là mái che vùng này. Không như bây giờ đâu.
- Ngài là ai ạ? Có gặp được không bà?
- Con là ai mà đòi gặp Ngài? Có khi cả mấy đời không có nổi một người đủ khí phách gặp Ngài đâu.
- Ngài là vị thần? Có tên không bà?
- Hơn cả vị thần chứ, là người cai quản linh hồn cả vùng đất này. Một tướng quân dũng mãnh vô song, diệt cả một đội quân giặc cho dân ta sống đấy. Đêm 30 Tết năm nào mưa thuận gió hòa Ngài sẽ báo trước. Đấy, nằm im, nghe thấy gì không, có thể Ngài đã về đấy. Tôi cố gắng dỏng tai lên, hướng về phía cửa sổ để nghe. Đúng rồi, từ rất xa xôi, có một âm thanh trầm đục rồi cao dần, loang dần ra. Tiếng tù và thì phải. Nghe kỹ, như tiếng gió rít, tiếng mưa xối, tiếng nước chảy rí rách, tiếng chân trẻ con chạy quanh thềm, tiếng cười, tiếng hát… Những âm thanh mơ hồ nhưng hòa quyện, da diết, thúc giục, náo nức khác lạ. Có một hơi ấm rất nhẹ, rất mềm thổi lên má tôi. Tôi mơ mình mặc bộ quần áo lụa đỏ ngồi trên bạch mã trong vòng tay hoàng tử của mình...
… “Bớ bà con ơi, làng cháy rồi! Cháy rồi!”. Tiếng kêu thất thanh giữa đêm khiến cả làng bật dậy. Giặc đến cướp bóc và đốt làng. Lửa bốc cao ngùn ngụt, dân làng náo loạn. Chàng trai trẻ lạ mặt cưỡi ngựa trắng bỗng đâu xuất hiện mở đường máu, hô dân làng chạy lên núi Thú. Cả đoàn người rùng rùng di chuyển, ai ôm được thứ gì đều cố kiết mang đi. Tiếng chân hỗn loạn, tiếng kêu khóc, tiếng la hét náo động một vùng. Trâu bò lợn gà túa ra đồng. Khói bốc mù mịt. Bóng người nhao đi loang loáng trong ánh lửa. Khi dân làng đã chạy lên núi Thú, nhìn lại, thấy chàng trai dang tay hét lên một tiếng rồi quay ngựa về phía núi. Ngựa hí vang trời. Cả cánh rừng chân núi chuyển động đóng khít lại ngăn quân giặc. Người làng đóng trại trên núi, tìm nhau trong bóng đêm. Thiếu mất một người là anh Khờ. Anh không có tên, cha mẹ sinh ra đã ngây ngốc, khờ khạo. Ai bảo gì cũng làm, hiền như đất. Ăn no là nằm ngủ bên ổ chó, không phá phách. Anh đi giã gạo cho cả làng, đổi lấy bát cơm trộn sắn rưới ít mỡ nước. Anh Khờ 17 tuổi mà chẳng khác trẻ lên 5, cười vô tri cả ngày. Tên của anh do người làng gọi. Từ núi Thú nhìn xuống, làng là một biển lửa rừng rực. Trong ánh lửa người ta thấy gì kia? Thật không tin vào mắt mình. Chàng trai cưỡi bạch mã vung gươm sáng lòa, những xác giặc đổ xuống. Bên sườn đồi kia, anh Khờ cõng tượng Phật chui ra từ ngôi chùa nghi ngút khói. Anh Khờ leo từng bước lên ngọn đồi cao nhất trước làng. Bóng anh như sập xuống. Còn chàng trai cùng bạch mã đi dần vào biển lửa.
Hôm sau, bình minh lên, người làng cử người xuống núi. Làng cháy nham nhở, nhiều nhà chỉ còn nền gạch, cây que. Nhưng không còn bóng giặc. Những vệt máu đã được phủ cát. Không biết người cưỡi bạch mã đã đi đâu. Cụ già nhất làng bảo, “không kém trăm tên giặc đâu”. Người làng tìm thấy anh Khờ lả đi, gối đầu lên tượng Phật trên đồi cao ngủ gục. Dân làng cứu anh và dựng tạm cái lán lá cho Phật ngự. Chùa Cháy sau này bắt nguồn từ đó. Người già bảo, chàng cưỡi ngựa là tướng quân của triều đình, đem lòng yêu một người con gái của làng nên âm thầm bảo vệ làng.
Người con gái ấy là ai thì là bí mật. Con gái vùng này tóc dài, da mịn. Uống nước sông, nhai sâm Nam, cỏ thi nên má hồng, da thơm. Làng cử người lên núi Dành lấy sâm Nam về chế nước nhỏ mắt cho những người ngạt khói. Những đôi mắt sáng ra, lành lại. Người người lại làm nhà, xây làng, sinh con đẻ cái. Anh Khờ sau cũng lấy được vợ, một cô gái mồ côi đi hoang, ngủ lại chùa Cháy. Phật tặng cho anh Khờ vợ - cả làng nói thế, bởi lúc gian nguy ai cũng chạy thoát thân mình, chỉ có anh Khờ cứu Phật mà thôi. Không ai tin rằng con cháu anh Khờ sau này giỏi giang, giàu có. Trời Phật có mắt đấy, ai cũng tin như vậy. Người thì bảo vị tướng về triều mang theo cô gái đẹp nhất làng. Người thì bảo Ngài đã phi ngựa lên đỉnh núi Thú “hóa” về trời. Người con gái đẹp nhất làng cũng đã đi theo Ngài. Mỗi dấu chân của nàng để lại đều trổ ra một loài thảo dược chữa đủ thứ bệnh cho dân vùng này. Mùa hoa sâm Nam nở trắng thung lũng là lúc người ta làm lễ mùa thu tưởng nhớ nàng. Bạch mã mắt hồng như lửa, lông trắng như tuyết đã hí lên một tiếng vang dội vòm trời tiễn Ngài và nàng Đẹp (sau này người ta gọi tên nàng như thế). Bạch mã biến vào nhân gian, nhớ lời hẹn sẽ trở về vào đêm 30 Tết năm nào mà đất trời hòa thuận. Trên núi có loài nấm mẫu đơn đỏ chói mọc ra từ vết máu chỗ bị thương của Ngài. Năm nào nấm nở nhiều, năm đó làng vui. Ngôi đền trên núi Thú chưng loài nấm này mỗi khi vào các tiết trong năm.
Tôi đứng ngắm bức tượng Phật trong chùa Cháy. Bức tượng bằng gỗ thô mộc đã nhuốm màu thời gian. Anh Khờ đã về trời từ lâu. Lâu là bao giờ thì rất khó định lượng. Huyền thoại về làng tôi như có cả nghìn năm trước vậy. Trời đất, núi sông, mưa gió cả nghìn năm nay vẫn thế, chẳng biết rồi già, có chết đi không? Đêm mưa phùn, tôi nhìn những ánh sáng lập lòe ngoài đồng vắng nghĩ về sự hữu hạn của đời người và cảnh vật làng quê. Mỗi tâm hồn một sinh linh cụ thể đều ướp đầy gió mưa, sương nắng, cỏ cây. Tôi đi từ chùa Cháy lên đền trên núi. Bóng anh Khờ khuất dần trên đỉnh dốc, hình như anh vẫy cho tôi đi nhanh hơn. Có một cơn lốc đến, những sợi mưa táp vào tóc lạnh buốt. Có ai đó bế thốc tôi lên lưng ngựa. Bạch mã phi nước đại đến trước một vùng xanh rộng lớn. Chàng trai bảo: “Em hứa đi, cả đời chỉ có ta trong tim, chỉ có quê hương này là lẽ sống”. Một vòng tay ấm sực, một mùi hương thanh khiết bủa vây tôi. Tôi gật đầu hứa. Chàng hôn tôi đắm say rồi nhấc tôi xuống đặt lên thảm hoa, thúc gót cùng ngựa trắng bay đi và nói: “Hãy chờ ta về”… Tôi đứng đó, chờ đợi và hóa thành một khóm sâm cổ thụ rung rinh hoa trắng.
- Con bé này dậy thôi - ngủ vẫn cười - bà vỗ mạnh vào lưng tôi. Tôi choàng dậy.
- Cháu đã mơ bà ạ. Mơ gặp Ngài ấy luôn, cả bạch mã, cả ông Khờ. Cái làng của bà ngày xửa ngày xưa nữa... Cả Phật nữa...
Bà ôm tôi vào lòng, vỗ vỗ lưng rồi nói, thế là cháu yêu cái làng này.
- Vậy chuyện về những nghĩa quân Đề Thám và bãi Quần Ngựa là thế nào hả bà? Cụ kể là vào những đêm trăng sáng mùa hè, dưới chân núi Thú, tiếng chân ngựa chạy rầm rập.
- Những tướng lĩnh nghĩa quân Đề Thám sau này là hậu duệ của Ngài đó thôi, họ đóng trại, luyện ngựa suốt ngày đêm rồi rút vào rừng Yên Thế chống giặc. Dễ 20 năm liền, bãi Quần Ngựa ngày nào chẳng có hàng nghìn ngựa chiến...
- Thế tiếng ngựa phi hàng đêm là thật hả bà?
- Con nghĩ thật là nó thật. Vùng đất nào cũng có linh hồn.
Tôi im lặng nhìn ra ngoài. Mưa phùn của mùa xuân đã giăng mắc. Trời sắp sáng. Hơi ấm mới đã len lỏi trong không gian. Tôi nghĩ về Ngài, về nàng Đẹp, về bạch mã và người giữ đền. Họ là những vị thần giữ linh hồn nơi này, thảo nào họ luôn đi đi về về trong tâm trí người làng. Họ cũng ngự trị cả những giấc mơ của tôi, một đứa con gái làng tuổi thanh xuân. Bạch mã tung bờm trong gió xuân kiêu hãnh mang theo tình yêu của tôi với một chàng trai trong tâm trí mình. Tôi sẽ tìm một chú ngựa, cưỡi nó đi khắp mấy ngọn đồi kia để tìm huyền thoại xưa, rồi tìm cách kể lại. Người giữ đền thắp lửa mỗi đêm là chút chít nhiều đời của anh Khờ.
- Cha bố cô, mơ gì lắm thế. Đêm qua Ngài về thật đấy, hôm nay trời đất ấm hơn. Các cụ vừa nói chuyện lửa đền sáng suốt đêm sưởi cho bạch mã. Năm nay sẽ được mùa sâm, mùa lúa.
Có người cũng bảo, ngọn lửa ấy tự thắp lên mỗi đêm đầu xuân khi cả vùng đất này chờ đón những vị thần của mình. Tôi đã hỏi được một bí quyết của bà nội. Đó là chịu khó nhìn cây, nhìn hoa sống ở đất này mà liệu, mình sẽ phù hợp với điều gì. Tôi nhìn đám lá đẫm sương và nhủ thầm: Đúng vậy, đêm qua, bạch mã đã trở về. Ngài xuống núi, thúc ngựa phi nước đại, tung bờm trong ký ức tôi. Tôi giấu bà chuyện mình hóa thành cây sâm, bởi tôi vẫn tin, mỗi đêm sau này, trong mơ, tôi đều gặp lại Ngài và bạch mã. Khi nào tim tôi còn yêu nơi này tôi còn thấy họ.
Truyện ngắn của Nguyễn Thị Mai Phương
Nguồn Bắc Ninh : https://baobacninhtv.vn/bach-ma-tro-ve-postid438646.bbg