Bài 2: Kinh nghiệm giảm trừ khoản chi y tế, giáo dục - đào tạo từ các nước

Bài 2: Kinh nghiệm giảm trừ khoản chi y tế, giáo dục - đào tạo từ các nước
3 giờ trướcBài gốc
Bài 1: Lần đầu đề xuất giảm trừ thuế cho chi phí y tế, giáo dục - đào tạo tới gần 50 triệu đồng/năm
Nhiều quốc gia sử dụng công cụ giảm trừ hoặc khấu trừ thuế TNCN đối với chi tiêu y tế và giáo dục – đào tạo như một giải pháp chính sách nhằm chia sẻ rủi ro với hộ gia đình, khuyến khích đầu tư cho nguồn nhân lực và bảo đảm an sinh xã hội.
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy các cơ chế này thường được thiết kế có mục tiêu, gắn với mức chi thực tế. Tuy nhiên, cách thức, phương thức thực hiện cũng như việc xác mức giảm trừ của các nước cũng rất khác nhau. Cùng với đó, mức giảm trừ chung cho người nộp thuế ở các nước cũng rất khác nhau, thậm chí có quốc gia không định mức giảm trừ chung cho người phụ thuộc mà lồng ghép vào các khoản giảm trừ cho y tế, giáo dục – đào tạo của người phụ thuộc.
(Ảnh minh họa)
Tại Trung Quốc, pháp luật thuế TNCN cho phép người nộp thuế được được giảm trừ 60.000 RMB/năm (bằng 0,6 lần GDP bình quân đầu người năm 2025 của Trung Quốc), không quy định mức giảm trừ chung cho người phụ thuộc nhưng cho phép người nộp thuế được hưởng mức giảm trừ cho y tế nếu như mức chi phí cho y tế phát sinh trong năm cao hơn 15.000 RMB. Tuy nhiên, Trung Quốc khống chế mức giảm trừ tối đa không vượt quá 80.000 RMB (gộp chung cho cả người nộp thuế và cả con, vợ, chồng, bố, mẹ của người nộp thuế), tối thiểu là 15.000 RMB tương ứng với tỷ lệ khoảng 16% GDP bình quân đầu người của.
Đối với các khoản giảm trừ giáo dục, Trung Quốc cho phép người nộp thuế giảm trừ chi phí giáo dục cho con đang học phổ thông với mức 2.000 RMB/tháng (24.000 RMB/năm), tương ứng với tỷ lệ khoảng 24% trên GDP bình quân đầu người của Trung Quốc; đối với đào tạo nghề, đào tạo đại học thì mức giảm trừ là 400 RMB/tháng và tối đa không quá 48 tháng. Tuy nhiên, khác Việt Nam là Trung Quốc không quy định mức giảm trừ chung cho người phụ thuộc.
Tại Thái Lan, pháp luật thuế TNCN cho phép giảm trừ đối với người nộp thuế ở mức tối đa không quá 90.000 Baht/năm (Bao gồm 2 khoản: khoản giảm trừ bằng 40% thu nhập nhưng không vượt quá 60.000 Baht/năm và khoản giảm trừ cố định 30.000 Baht/năm) (bằng 0,33 lần GDP bình quân đầu người năm 2025 của Thái Lan) và giảm trừ cho con dưới 25 tuổi là 15.000 Baht/năm/người con nhưng tối đa không quá 3 con (tương đương 45.000 Baht hay bằng 0,17 lần GDP bình quân đầu người năm 2025 của Thái Lan) và giảm trừ thêm 2.000 Baht/năm (khoảng 64 USD) cho mỗi con đang học tại cơ sở giáo dục ở Thái Lan.
Thái Lan không có quy định giảm trừ riêng cho chi y tế nhưng cho phép người nộp thuế được phép giảm trừ các khoản chi mua bảo hiểm y tế tối đa không quá 25.000 Baht/năm, bảo hiểm sức khỏe cho bố, mẹ không quá 15.000 Baht/năm.
Tại Malaysia, pháp luật thuế TNCN cho phép giảm trừ đối với người nộp thuế ở mức 9.000 RM/năm (bằng 0,15 lần GDP bình quân đầu người năm 2025 của Malaysia) và giảm trừ người phụ thuộc là con dưới 18 tuổi hoặc trên 18 tuổi nhưng đang đi học là 2.000/năm (nếu học đại học trở lên là 8.000 RM/năm). Đồng thời đất nước này hỗ trợ người nộp thuế mức giảm trừ cho giáo dục là 7.000 RM/năm và y tế đối với bệnh hiểm nghèo cho người nộp thuế, vợ/chồng và con người nộp thuế là 10.000 RM/năm (bằng 0,17 lần GDP bình quân đầu người năm 2025 của Malaysia), đối với cha mẹ của người nộp thuế là 8.000 RM/năm.
Đối với các khoản giảm trừ giáo dục cho người nộp thuế tại các cơ sở đào tạo tại Malaysia thì nguời nộp thuế được áp dụng mức giảm trừ 7.000 RM/năm. Ngoài ra, người nộp thuế có con dưới 6 tuổi sẽ được áp dụng thêm mức giảm trừ giáo dục cho con học mẫu giáo với mức 6.000 RM (bằng 0,1 lần GDP bình quân đầu người năm 2025 của Malaysia).
Singapore được nhắc đến như một điển hình về hệ thống thuế TNCN hiệu quả trong khu vực. Quốc gia này sử dụng hệ thống giảm trừ và ưu đãi có mục tiêu rõ ràng. Người dân được hưởng các khoản giảm trừ cụ thể cho việc học thêm kỹ năng, đóng góp vào quỹ hưu trí tự nguyện, chăm sóc cha mẹ cao tuổi và nuôi con nhỏ. Những ưu đãi này không chỉ giảm gánh nặng thuế mà còn hướng hành vi của người dân theo các mục tiêu xã hội cụ thể như nâng cao tay nghề, đảm bảo an sinh tuổi già và hỗ trợ tỷ lệ sinh.
Hàn Quốc và Nhật Bản điều chỉnh hệ thống thuế TNCN theo hướng khuyến khích tham gia lao động và hỗ trợ các gia đình trẻ. Cả hai quốc gia đều có các khoản giảm trừ đặc biệt cho chi phí nuôi trẻ nhỏ và học phí, nhằm giảm gánh nặng kinh tế cho nhóm tuổi lao động chính. Đây là hướng tư duy gắn chính sách thuế với chiến lược nhân khẩu học dài hạn khi tốc độ già hóa dân số đang tăng nhanh.
Thanh Phương
Nguồn TCDN : https://taichinhdoanhnghiep.net.vn/bai-2-kinh-nghiem-giam-tru-khoan-chi-y-te-giao-duc--dao-tao-tu-cac-nuoc-d65700.html