Bà Nguyễn Thị Nga, Phó Cục trưởng Cục Bà mẹ và Trẻ em (Bộ Y tế): 'Điểm nghẽn' lớn nhất hiện nay trong công tác phòng ngừa và xử lý bạo hành trẻ em là khâu phối hợp và phát hiện sớm tại cộng đồng, khu phố, xóm chưa thực sự hiệu quả - Ảnh: VGP/Thúy Hà
Trao đổi với phóng viên Báo Điện tử Chính phủ, bà Nguyễn Thị Nga, Phó Cục trưởng Cục Bà mẹ và Trẻ em (Bộ Y tế) cho biết, hiện nay, pháp luật Việt Nam đã có nhiều quy định khá rõ ràng để bảo vệ trẻ em khỏi bạo lực, xâm hại trong gia đình, không chỉ với hành vi bạo lực thể chất mà cả bạo lực tinh thần.
Luật Trẻ em năm 2016 quy định trẻ em có quyền được bảo vệ khỏi mọi hình thức bạo lực, xâm hại, ngược đãi và tổn hại về tinh thần. Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2022 cũng xác định rõ các hành vi bạo lực trong gia đình, bao gồm cả hành vi xúc phạm, gây áp lực tâm lý, đe dọa hoặc hành hạ trẻ em.
Đặc biệt, Nghị định 98/2026/NĐ-CP của Chính phủ đã quy định cụ thể việc xử phạt hành chính đối với các hành vi bạo lực thể chất và tinh thần đối với trẻ em.
"Điều này cho thấy, pháp luật không chỉ xử lý các trường hợp gây thương tích nghiêm trọng mà còn hướng tới ngăn chặn từ sớm những hành vi làm tổn hại đến tâm lý, sự phát triển và môi trường sống an toàn của trẻ", bà Nga nói.
Bà Nguyễn Thị Mai Thoa, Ủy viên Ủy ban Văn hóa – Xã hội của Quốc hội cho biết, pháp luật Việt Nam về bảo vệ trẻ em nói chung và xử lý hành vi bạo lực, xâm hại trẻ em nói riêng đã có nhiều bước tiến quan trọng, từng bước tiệm cận với các chuẩn mực quốc tế.
Hiến pháp 2013 nghiêm cấm "xâm hại, hành hạ, ngược đãi, bỏ mặc" trẻ em. Luật Trẻ em quy định 15 nhóm hành vi bị nghiêm cấm, trong đó có hành vi tước đoạt quyền sống của trẻ em, xâm hại tình dục, bạo lực, bỏ mặc trẻ em; quy định trách nhiệm thông tin, thông báo, tố giác hành vi xâm hại trẻ em.
Bộ luật Hình sự quy định các tội danh có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi bạo hành trẻ em, quy định "phạm tội đối với người dưới 16 tuổi" (trẻ em) là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Chính phủ quy định mức xử phạt vi phạm hành chính lên tới 20 triệu đồng đối với hành vi bạo lực trẻ em; lên tới 15 triệu đồng đối với các hành vi không thông báo, không cung cấp, thông tin về trẻ em bị xâm hại cho cơ quan, cá nhân có thẩm quyền; đồng thời quy định trách nhiệm cụ thể của các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan thực hiện can thiệp trong trường hợp trẻ em cần bảo vệ khẩn cấp.
"Có thể thấy, Việt Nam có khung pháp lý tương đối đầy đủ để xử lý hành vi bạo lực, xâm hại trẻ em. Tùy vào tính chất, mức độ vi phạm mà hành vi bạo lực, xâm hại trẻ em có thể bị xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Trên thực tế, nhiều hành vi bạo hành trẻ em đã bị xử lý nghiêm khắc", bà Thoa cho hay.
Khoảng cách giữa luật và thực tế
Tuy nhiên, đại diện Ủy ban Văn hóa-Xã hội của Quốc hội nhìn nhận, nếu nhìn từ thực tiễn các vụ bạo lực, xâm hại trẻ em thời gian qua, vẫn còn những bất cập trong quy định và thực thi pháp luật.
Luật Trẻ em quy định bảo vệ trẻ em được thực hiện theo ba cấp độ gồm "phòng ngừa", "hỗ trợ" và "can thiệp", "coi trọng phòng ngừa, ngăn chặn nguy cơ gây tổn hại cho trẻ em". Tuy nhiên, các biện pháp bảo vệ trẻ em cấp độ phòng ngừa, cấp độ hỗ trợ chưa mang tính bắt buộc đối với cơ quan, tổ chức, cơ sở giáo dục, gia đình, cá nhân có trách nhiệm bảo vệ trẻ em.
Do đó, công tác theo dõi, nắm tình hình trẻ em có nguy cơ bị bạo lực, xâm hại trên từng địa bàn dân cư, từng khu phố, từng lớp học… để kịp thời báo cáo, hỗ trợ giảm thiểu, loại bỏ nguy cơ bị bạo lực, xâm hại cho trẻ em chưa được thực hiện tốt, để xảy ra những vụ việc trẻ em bị bạo hành kéo dài, hậu quả rất nghiêm trọng.
Trong nhiều vụ việc bạo lực trẻ em, khi cơ quan chức năng vào cuộc thì hậu quả xảy ra quá nặng nề, thậm chí không thể cứu vãn - Ảnh minh họa
Khả năng phát hiện sớm
Bà Nguyễn Thị Mai Thoa nhìn nhận, chế tài hình sự của Việt Nam đối với hành vi bạo lực, xâm hại trẻ em hiện nay về cơ bản khá nghiêm khắc. Nhiều hành vi bạo hành trẻ em đã bị xử lý với mức án rất nặng, đặc biệt đối với các hành vi có tính chất kéo dài, tàn nhẫn, xâm hại nghiêm trọng thể chất, tinh thần của trẻ em hoặc dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.
Tuy nhiên, trong nhiều vụ việc bạo lực trẻ em, khi cơ quan chức năng vào cuộc thì hậu quả xảy ra quá nặng nề, thậm chí không thể cứu vãn. Điều đó cho thấy vấn đề không chỉ nằm ở mức hình phạt mà nằm ở khả năng phát hiện sớm, cảnh báo sớm và hỗ trợ, can thiệp kịp thời để bảo vệ trẻ em ngay từ khi các em bắt đầu có dấu hiệu bị bạo hành.
Trẻ em là nhóm rất dễ bị tổn thương và thường không có khả năng tự lên tiếng hoặc tự bảo vệ mình. Trong khi đó, không ít vụ việc xảy ra ngay trong gia đình - nơi đáng lẽ phải an toàn nhất đối với trẻ.
"Nạn nhân thường là trẻ nhỏ, có em chưa biết nói, có em bị đe dọa, cô lập, sợ hãi, sống phụ thuộc hoàn toàn vào người bạo hành (cha, mẹ, người chăm sóc trực tiếp); có em không biết rằng những gì đang xảy ra với mình là sai trái, vi phạm pháp luật và em có thể được giúp đỡ… Nếu cộng đồng, nhà trường, cơ sở y tế, chính quyền cơ sở… không kịp thời nhận diện dấu hiệu bất thường từ các em thì rất dễ bỏ lọt hành vi bạo hành trẻ em hoặc kéo dài tình trạng này", bà Thoa nhấn mạnh.
Trong nhiều vụ việc, không phải cộng đồng, hàng xóm hoàn toàn không biết nhưng còn tâm lý e ngại can thiệp vào chuyện riêng của gia đình, quyền riêng tư của cá nhân, sợ phiền phức hoặc chưa nắm được các quy định pháp luật về trách nhiệm thông tin, thông báo, tố giác hành vi xâm hại trẻ em, thiếu trách nhiệm trong thực hiện các quy định này.
Đồng quan điểm, bà Nguyễn Thị Nga cho rằng 'điểm nghẽn' lớn nhất hiện nay trong công tác phòng ngừa và xử lý bạo hành trẻ em là khâu phối hợp và phát hiện sớm tại cộng đồng, khu phố, xóm chưa thực sự hiệu quả, nhất là trong bối cảnh địa bàn quản lý ngày càng rộng, dân số đông hơn nhưng nhân lực làm công tác trẻ em còn rất mỏng.
Theo bà, hiện nay, sau khi sắp xếp đơn vị hành chính tại 34 tỉnh, thành phố, quy mô cấp xã thay đổi đáng kể. Một cán bộ phụ trách công tác trẻ em rất khó bao quát hết địa bàn nếu không có cơ chế phối hợp liên ngành chặt chẽ, phân công nhiệm vụ, trách nhiệm cụ thể của y tế, giáo dục, công an, các tổ chức đoàn thể và cộng đồng dân cư.
"Có thể thấy, hệ thống pháp luật và chế tài xử lý hành vi bạo hành trẻ em hiện nay cơ bản đã có đầy đủ. Vấn đề là nhiều vụ việc chưa được phát hiện từ sớm hoặc khi phát hiện thì việc phối hợp can thiệp còn chậm, thiếu tính liên tục. Một số nơi, thông tin chưa được chia sẻ kịp thời giữa các cơ quan; trách nhiệm từng đơn vị, từng cá nhân trong xử lý vụ việc đôi khi chưa thật sự rõ ràng", Phó Cục trưởng Cục Bà mẹ và Trẻ em nhấn mạnh.
Cũng theo bà Nguyễn Thị Nga, tháng 3/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định 427/QĐ-TTg kiện toàn Ủy ban Quốc gia về trẻ em. Nhiều địa phương cũng đã thành lập Ban chỉ đạo công tác trẻ em. Đây là bước rất quan trọng, nhưng điều cốt lõi là hoạt động phải đi vào thực chất, không hình thức. Cần phân công rõ trách nhiệm, duy trì giao ban định kỳ, chủ động nắm tình hình trẻ em đến tận thôn, xóm, tổ dân phố để phát hiện sớm các nguy cơ.
Hiện Cục Bà mẹ và Trẻ em đang tham mưu Bộ Y tế ban hành tài liệu hướng dẫn tổ chức hoạt động Ban bảo vệ trẻ em cấp xã, đặc biệt hỗ trợ đội ngũ cán bộ mới sau sắp xếp đơn vị hành chính. Mục tiêu là củng cố mạng lưới bảo vệ trẻ em ngay từ cơ sở, giúp các vụ việc được phát hiện sớm hơn, xử lý nhanh hơn và hạn chế tối đa những hậu quả đáng tiếc đối với trẻ em.
>> Bài 3: Hoàn thiện mạng lưới bảo vệ trẻ em
Anh Thơ - Thúy Hà