Hai tình huống tuy khác nhau nhưng đều ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh. Làm thế nào để điều này không tái diễn, nhất là trong bối cảnh hệ thống pháp luật đang được hoàn thiện với khối lượng văn bản hướng dẫn rất lớn?
Nghị định 46/2026/NĐ-CP được ban hành ngày 26-1-2026 nhằm hướng dẫn thi hành Luật An toàn thực phẩm. Nghị định gồm 55 điều, dài 50 trang, kèm thêm 44 trang phụ lục, với phạm vi điều chỉnh rất rộng nhưng có hiệu lực thi hành ngay lập tức.
Một tuần sau, ngày 2-2-2026, Bộ Y tế, đơn vị chủ trì tham mưu ban hành Nghị định 46, mới tổ chức hội nghị phổ biến văn bản này. Trong khoảng thời gian đó, doanh nghiệp “ngồi trên đống lửa” vì từ ngày Nghị định 46 có hiệu lực, hàng ngàn tấn nông sản, thực phẩm bị ách tắc tại các cửa khẩu đường bộ, đường thủy và hàng không.
Đây đều là nhóm hàng vòng đời ngắn, dễ hư hỏng, chi phí logistics cao và phụ thuộc rất lớn vào tốc độ thông quan. Mỗi ngày chậm trễ đều chuyển hóa thành chi phí, thành rủi ro tiền tỉ của doanh nghiệp. Đó là chưa kể những doanh nghiệp có kế hoạch nhập hàng về phục vụ cao điểm tiêu dùng dịp Tết Nguyên đán cũng phải hủy đơn hàng và chịu phạt.
Nguyên nhân không quá khó để nhận diện. Nghị định 46 có hiệu lực ngay từ ngày ký ban hành, trong khi chưa có hướng dẫn chi tiết về phương thức kiểm tra, quy trình lấy mẫu, thời gian kiểm nghiệm. Quy định chuyển tiếp đối với các lô hàng đang trên đường nhập khẩu hoặc đã làm thủ tục cũng chưa được đặt ra. Khi phương thức kiểm tra mới được áp dụng đồng loạt, với thời gian trả kết quả 5-7 ngày, cơ quan kiểm tra, hệ thống kiểm nghiệm và doanh nghiệp đều rơi vào thế bị động.
Có lẽ điều thị trường cần nhất không chỉ là những quy định chặt chẽ hơn, mà là những quy định có thể dự báo được. Bởi với doanh nghiệp, sự ổn định và khả năng dự đoán chính sách nhiều khi còn quan trọng không kém bản thân nội dung chính sách.
Ở chiều ngược lại, câu chuyện Luật Hóa chất lại cho thấy một dạng “khoảng trống” khác. Luật có hiệu lực từ ngày 1-1-2026, nhưng phải đến ngày 17-1-2026, các văn bản hướng dẫn mới được ban hành. Trong khoảng thời gian đó, cơ quan chức năng thiếu cơ sở pháp lý để cấp phép nhập khẩu hóa chất. Hàng hóa bị mắc kẹt, dây chuyền sản xuất bị gián đoạn, thiệt hại là điều khó tránh khỏi.
Hai câu chuyện này đặt cạnh nhau cho thấy một thực tế: cả việc chậm ban hành văn bản hướng dẫn lẫn việc ban hành nhưng chưa chuẩn bị đầy đủ điều kiện thực thi đều có thể gây ra những cú “sốc chính sách” cho thị trường.
Điều đáng nói là những sự việc này xảy ra đúng vào thời điểm hệ thống pháp luật đang bước vào giai đoạn hoàn thiện mạnh mẽ. Tính riêng 46 luật, sáu nghị quyết được Quốc hội khóa XV thông qua tại kỳ họp tháng 10-2025, các cơ quan có thẩm quyền phải ban hành 252 văn bản quy định chi tiết thi hành(1).
Hiện vẫn còn 100 văn bản quy định chi tiết các luật, nghị quyết đã có hiệu lực nhưng chưa được ban hành thuộc trách nhiệm chủ trì soạn thảo của nhiều bộ (2). Khối lượng công việc rất lớn, nhưng từ hai tình huống nêu trên, yêu cầu đặt ra là cần nâng cao hơn nữa chất lượng xây dựng chính sách.
Văn bản quy định chi tiết là mắt xích thiết yếu bảo đảm tính đầy đủ, đồng bộ, thống nhất và khả thi của hệ thống pháp luật. Một đạo luật được chuẩn bị công phu đến đâu, chứa đựng những chính sách tốt đến đâu, nếu thiếu các quy định cụ thể để tổ chức thực hiện, cũng khó có thể phát huy hiệu lực trong đời sống xã hội.
Hệ quả không chỉ dừng lại ở việc làm giảm hiệu lực, hiệu quả của luật, mà còn tạo ra sự lúng túng trong áp dụng, phát sinh cách hiểu khác nhau giữa các cơ quan, địa phương, thậm chí gây thiệt hại cho người dân và doanh nghiệp. Khoảng cách giữa chủ trương và thực tiễn, vì thế, lại thêm một lần bị nới rộng, trong khi mục tiêu của cải cách thể chế chính là thu hẹp khoảng cách ấy.
Văn bản hướng dẫn không chỉ cần đúng về kỹ thuật pháp lý, mà còn phải “đúng” về thời điểm, lộ trình và điều kiện thực thi. Trong các văn bản mới, cần thiết kế thời gian chuyển tiếp hợp lý để doanh nghiệp có thời gian chuẩn bị, điều chỉnh hệ thống, giấy phép, quy trình.
Quan trọng hơn, việc đánh giá tác động chính sách, dự báo tình huống phát sinh và thiết kế lộ trình thực thi cần được coi là “phần lõi”, chứ không chỉ là bước thủ tục. Trường hợp chưa kịp ban hành văn bản hướng dẫn, có thể cân nhắc cho phép áp dụng quy định cũ trong thời gian chuyển tiếp để tránh làm gián đoạn hoạt động quản lý cũng như sản xuất, kinh doanh.
Ở góc độ quản lý nhà nước, trách nhiệm của các bộ, ngành trong tham mưu xây dựng văn bản hướng dẫn là rất lớn, nhất là trong bối cảnh khối lượng văn bản hướng dẫn ngày càng nhiều và yêu cầu thực thi ngày càng nhanh.
Không chỉ dừng ở việc ban hành kịp thời, điều quan trọng hơn là bảo đảm các quy định mới được chuẩn bị đầy đủ về điều kiện thực thi trước khi áp dụng trên diện rộng. Điều này đòi hỏi phải mở rộng cánh cửa tham vấn chuyên gia, lấy ý kiến đối tượng chịu tác động; đòi hỏi cơ chế phối hợp liên ngành phải thực chất hơn, từ khâu xây dựng chính sách, đánh giá tác động, đến tổ chức triển khai, hướng dẫn thực hiện và xử lý vướng mắc phát sinh.
Ở góc độ thể chế, vai trò giám sát của Quốc hội trong quá trình xây dựng văn bản dưới luật cũng ngày càng quan trọng, nhất là với những nghị định có tác động trực tiếp đến hoạt động sản xuất, lưu thông hàng hóa và thị trường.
Còn với doanh nghiệp và các hiệp hội ngành hàng, việc tham gia góp ý chính sách từ sớm không còn là lựa chọn, mà gần như đã trở thành nhu cầu tự thân. Bởi chính họ là những người cảm nhận rõ nhất chi phí tuân thủ, các rủi ro kỹ thuật hay những “điểm nghẽn” có thể phát sinh khi chính sách đi vào thực tế.
Cuối cùng, có lẽ điều thị trường cần nhất không chỉ là những quy định chặt chẽ hơn, mà là những quy định có thể dự báo được. Bởi với doanh nghiệp, sự ổn định và khả năng dự đoán chính sách nhiều khi còn quan trọng không kém bản thân nội dung chính sách.
(1) https://www.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/chi-dao-dieu-hanh.aspx?ItemID=5824
(2) https://baochinhphu.vn/day-nhanh-tien-do-xay-dung-ban-hanh-van-ban-quy-dinh-chi-tiet-luat-phap-lenh-nghi-quyet-102260116185702283.htm
An Nhiên