Bài thơ viết ở cửa Tén Tằn

Bài thơ viết ở cửa Tén Tằn
6 giờ trướcBài gốc
Minh họa: BH
Gió từ thung sâu thổi lên, gió từ dòng chảy mênh mông nước xiết mang theo mùi cỏ dại ngai ngái trộn với hương khói bếp bản xa. Tén Tằn không giống bất kỳ nơi nào anh từng đi qua: núi kẹp hai bên sông không chỉ cao, mà như biết lắng nghe tiếng hun hút của gió; suối không chỉ chảy, mà đang mải miết về kể một câu chuyện dân gian, khởi nguồn từ thuở hồng hoang. Là một người lính có tâm hồn mơ mộng, lúc cuốc bộ bên bờ thượng nguồn sông Mã, Mai Đức Nam cảm như mỗi bước chân mình đang chạm vào vang động dội về từ quá khứ.
*
Mai Đức Nam quê miền biển. Anh lớn lên giữa gió mặn và sóng bạc đầu, giữa tiếng chèo khua và mùi cá khô phơi nắng. Mẹ anh bảo, đời người đàn ông vùng biển phải biết đi xa, đi xa nhất là ra khơi và lên núi. Sau nhiều năm làm bộ đội biên phòng ở đảo Mê, anh được điều động lên đồn Tén Tằn làm trinh sát cơ sở, bám dân, bám bản. Đây là một sự thuyên chuyển bình thường của người lính biên phòng. Chỉ có điều, chuyến ngược ngàn lên với miền Tây xứ Thanh này, trong ba lô của anh ngoài quân trang còn có một bọc vải nhỏ, màu nâu sẫm, sờn mép. Bên trong cái bọc đó là một tờ giấy đã ố vàng chép bài thơ của cha anh, liệt sĩ Mai Đức Đông, một chiến sĩ quân tình nguyện Việt Nam chiến đấu tại nước bạn Lào, hồi kháng chiến chống Mỹ.
Trao bài thơ cho Nam trong một buổi sáng gió lặng, mẹ anh không khóc. Mẹ chỉ nói: “Con lên đó, nếu có duyên, tìm giúp mẹ. Không phải để mang về đâu, chỉ để biết cha anh nằm chỗ nào, cho mẹ gọi đúng tên đất”. Nam nghe tiếng mẹ nhẹ như một lưỡi sóng khẽ lùa lên bờ cát. Nhưng anh biết, lời mẹ là tự nỗi lòng nặng như đá núi áp đè đã mấy chục năm.
Quãng năm 1973, trước khi sang chiến trường nước bạn, cha gửi về cho mẹ một bài thơ song thất lục bát. Mẹ bảo, đó là bức thư duy nhất, cũng là bức thư cuối cùng của cha anh gửi lại.
Đại úy Nam mở bọc vải, đọc lại những dòng chữ đã nhuốm màu thời gian mà cảm nhận rõ từng nhịp đập rộn ràng, thổn thức trong trái tim mình: "Cửa Tén Tằn sao giăng chi chít/ Non nước này anh viết thăm em/ Bây chừ đã quá nửa đêm/ Đường đi đánh giặc nhớ em thẫn thờ/ Càng thương nhớ càng lo nhiệm vụ/ Mong ngày về làm bố thằng cu/ Xây cho em cái nhà to/ Để con trai được tha hồ nhảy chơi/ Đêm Tén Tằn vời vợi trăng sáng/ Gửi về em ngàn vạn yêu tin/ Giặc tan đất nước bình yên/ Anh về, vợ đón, ta bên nhau cùng”.
Đại úy Nam gấp bài thơ lại. Trăng Tén Tằn đêm đầu tiên anh đến, sáng lạ lùng. Anh có cảm giác, trăng đang soi xuống chính con đường cha anh từng đi, xuống con đò chở đoàn quân Tây Tiến.
***
Ngày mẹ nhận được bài thơ, mẹ chưa đầy hai mươi tuổi. Mẹ nhớ, cưới mới đầy năm ngày, người chồng trẻ khoác ba lô ra trận. Mẹ kể, hôm tiễn cha đi, gió biển thổi mạnh, cát bay mù mịt. Cha cười, nói đùa: “Anh đi ít bữa, sẽ về làm bố thằng cu cho em mừng”. Mẹ đỏ mặt, quay đi, nhưng con tim thì nóng ran trong ngực trẻ.
Bài thơ đến với mẹ sau một tháng rưỡi ngày cha đi. Người đưa thư là một chiến sĩ trẻ, giọng còn run khi đọc tên người nhận. Mẹ nhận thư, tay run hơn cả người đưa. Mở thư ra, những câu chữ như sóng vỗ, vừa dịu dàng vừa dữ dội. Mẹ đọc đi đọc lại đến thuộc lòng. Mẹ đặt bài thơ dưới gối, tối nào cũng lôi ra đọc, như thể đọc lên là cha sẽ nghe thấy.
Rồi tin cha hy sinh đến bằng một tờ giấy báo tử có câu chung: “Thi thể liệt sĩ Mai Đức Đông được chôn cất ở mặt trận phía Tây, trong tình nghĩa yêu thương của đồng chí, đồng đội”. Không có hài cốt. Không có địa chỉ cụ thể đặt mộ chí. Di vật của liệt sĩ để lại chỉ có một chiếc ba lô, một bộ quần áo, một đôi khăn có thêu đôi chim câu mẹ đã thêu cho chồng ngày lên đường và một cuốn sổ tay chép bài thơ, cha anh đã gửi về cho mẹ. Mẹ ôm cuốn sổ tay có bài thơ và đôi khăn vào ngực, ngã quỵ. Người làng bảo, từ ngày đó, mẹ coi bài thơ như thân thể của chồng. Đi đâu mẹ cũng mang theo. Bài thơ nhàu nát, mép giấy sờn đi, nhưng chữ thì càng ngày càng đậm, như được khắc bằng nỗi nhớ.
Mẹ sinh Nam trong một đêm mưa. Ngoài biển, sóng gầm. Mẹ bảo, lúc nghe tiếng con khóc, mẹ nhớ câu thơ “hẹn ngày về làm bố thằng cu” mà hai hàng lệ lăn dài trên gò má. Cha không về, nhưng lời hẹn vẫn nằm đó, như một sợi dây nối hai thế giới.
***
Nam lớn lên cùng bài thơ ấy. Mỗi lần Nam hỏi về cha, mẹ không kể nhiều. Mẹ chỉ lấy bài thơ ra, đọc. Giọng mẹ trầm, chậm, như đọc kinh. Nam không hiểu hết, nhưng mỗi chữ như thấm vào da thịt. Lên mười, Nam đã thuộc lòng. Lên mười lăm, Nam bắt đầu hiểu. Lên mươi tám tuổi, tốt nghiệp trung học xong, Nam vào bộ đội biên phòng, đúng với cái tuổi, cha anh rời con thuyền ra khơi vào lộng để làm người lính ra trận. Mỗi lần đọc thơ cha, Nam cứ đinh ninh, như thể con đường ra trận của cha đã được viết sẵn trong những câu thơ từ trước khi anh chào đời.
Ngày Nam nhận quyết định rời đảo Mê lên Tén Tằn đầu nguồn sông Mã, mẹ bỗng như vui lên. Mẹ đưa bài thơ của cha cho Nam và nhắc lại những lời đã nói: “Mẹ biết con đã thuộc làu rồi nhưng cứ mang theo, con à. May ra tinh anh cha con chỉ cho. Mẹ cảm thấy thế. Từ hôm nghe tin con chuyển công tác, mẹ đã mấy lần mơ thấy cha con về. Ông ấy vui lắm, cứ rủ mẹ cùng đi biển”.
Từ lúc đặt chân lên “địa phận” Tén Tằn, Nam càng thêm nhớ mẹ, nhớ lắm, thương lắm!
***
Một buổi tối, Nam theo anh em trong đơn vị xuống bản xa. Bản tổ chức sinh hoạt văn hóa. Lửa trại bập bùng. Tiếng khèn, tiếng trống hòa vào tiếng cười. Những cựu chiến binh người Thái ngồi thành vòng, tóc bạc, mắt sáng. Họ kể chuyện cũ, chuyện rừng, chuyện những ngày bom đạn.
Bất chợt, một ông già đứng dậy. Ông chống gậy, giọng khàn nhưng vang. Ông ngâm thơ. Nam giật mình. Từng câu, từng chữ quen đến nhói tim: “Cửa Tén Tằn sao giăng chi chít...”.
Nam đứng bật dậy. Tim anh đập như trống. Ông già ngâm hết bài, rồi chậm rãi kể: “Bài thơ này là một đồng đội của tôi, người ở dưới xuôi, ở cửa bể sông Mã. Nó viết trong một đêm trăng ở Tén Tằn, trước khi đơn vị vượt sông đi làm nhiệm vụ quốc tế trên đất bạn Lào. Chúng tôi chuyền tay nhau đọc, như chuyền nhau một ngọn đuốc soi đường và sưởi ấm tin yêu. Sau đó, hễ cứ có sinh hoạt văn nghệ là anh em lại đọc, người nào có vợ thì nhớ vợ, người nào có người yêu thì nhớ người yêu. Và tất cả cùng hòa vào tình yêu, nỗi nhớ quê hương da diết. Bộ đội Lào cũng thích bài này, họ chế thành những câu hát khặp, tình cảm lắm”. Người cựu chiến binh già chuyển bài thơ sang lời khặp. Mọi người đồng thanh “khặp” theo.
Khi tiết mục kết thúc, Nam bước tới chỗ người cựu chiến binh già, giọng run run hỏi:
- Bác... bác có biết tên người viết bài thơ ấy không ạ?
Ông già nhìn Nam rất lâu. Ánh lửa soi rõ khuôn mặt nhiều nếp nhăn. “Biết chứ. Nó cùng đơn vị với tôi. Nó tên là Đông, hình như họ Mai”.
***
Ông già tên là Hà Mùi. Ông và cha Nam cùng một đơn vị. Ông nhắc lại mấy lần, ngày ấy bài thơ được bộ đội thích lắm. Mỗi lần hành quân mệt, ai đó lại đọc lên vài câu. Nhớ nhà, nhớ vợ, nhớ con chưa kịp thấy mặt, tất cả dồn vào mấy dòng thơ mộc mạc. Cuối cùng ông Mùi ôm vai Nam xúc động nói: “Cha anh rất có tài. Nó viết không cầu kỳ mà mỗi chữ như có hơi thở, có tấm lòng!”.
Dừng giây lát, ông Mùi đưa tay ấn dưới mũi mãi mới nói tiếp được: “Ngày cha anh hy sinh do đơn vị bị phục kích. Đạn nổ như xé rừng. Cha anh bị thương nặng, vẫn cố kéo đồng đội vào chỗ an toàn. Tôi là người cuối cùng còn sống ở bên cạnh cha anh. Cha anh nắm tay tôi, thì thào: “Nếu... nếu còn sống, nhớ nói với vợ tôi chăm... thằng cu...”. Rồi tôi cũng bị thương, mê đi, lúc tỉnh lại thì ở trạm phẫu tiền phương. Tôi có hỏi thì biết cha anh đã hy sinh. Tải thương không tìm thấy hài cốt. Rừng mưa nó đã nuốt mất rồi”.
Ông Hà Mùi giữ bài thơ trong trí nhớ suốt mấy chục năm. Ông bảo, đó là thứ ông mang theo khi về bản, khi làm nương, khi già đi. “Bài thơ không cho tôi quên mình đã sống thế nào”, ông nói tiếp.
Nam quỳ xuống trước ông Hà Mùi. Anh không khóc. Nước mắt như đông lại đâu đó trong ngực.
***
Đại úy Nam báo cáo đơn vị. Đơn vị đồng ý cho anh cùng ông Hà Mùi và vài anh em sang đất Lào đi tìm hài cốt. Không có bản đồ. Chỉ có ký ức của một người già và những dấu hiệu mờ trong rừng. Họ đi nhiều ngày. Rừng bên kia cửa Tén Tằn dày đặc, rễ quấn lấy đá. Có lúc tưởng chừng vô vọng.
Một buổi chiều, họ đến một khoảng đất cao. Ông Hà Mùi dừng lại. Ông bảo, trận đánh ngày ấy diễn ra quanh đây. Ông chỉ xuống một khe suối cạn: “Nó ngã ở đó”. Nam bước xuống, tim đập mạnh. Anh đào. Đất mềm. Một mảnh vải mục lộ ra. Rồi một mẩu xương. Nam ôm lấy mẩu xương. Lần đầu tiên trong đời, anh gọi khẽ: Cha!
Trăng lên. Trăng Tén Tằn vời vợi. Nam lấy bài thơ ra, đọc. Giọng anh hòa vào gió rừng. Ông Hà Mùi đứng bên, chắp tay. Dường như núi lắng nghe. Dường như suối ngừng chảy.
***
Hài cốt được quy tập. Nam đứng trước mộ cha, đặt bài thơ lên. Anh thì thầm: “Con gửi lại bài thơ cho cha. Nhưng từng câu, từng chữ, con nguyện mang theo đến suốt đời”. Gió thổi, lá rung. Trăng sáng.
Ngày trở về, Nam mang theo một bản chép lại bài thơ. Bản gốc, anh để lại với mộ cha. Mẹ nghe tin, im lặng rất lâu. Rồi mẹ cười. Cùng nụ cười hiếm hoi đó mẹ nói: “Lạy Trời, lạy Phật, thế là ông ấy không còn lạc nữa rồi!”.
Đêm ấy, Nam mơ thấy cha. Cha đứng ở cửa Tén Tằn, bóng đổ dưới ánh trăng vằng vặc. Cha đọc thơ. Nam lặng nghe từng câu, chữ, thấy lòng mình yên tĩnh lạ lùng.
Bài thơ được gửi đi, rồi được gửi lại. Qua chiến tranh, qua mất mát, qua những đời người. Và ở đâu đó giữa núi rừng bên kia cửa Tén Tằn, trên nước bạn Lào, trăng vẫn sáng...
Truyện ngắn của Trần Đoan Trang
Nguồn Thanh Hóa : http://baothanhhoa.vn/bai-tho-viet-o-cua-ten-tan-281639.htm