Điều kiện kinh doanh dịch vụ ô tô phải là ngành nghề kinh doanh có điều kiện
Ông Vũ Tấn Công - Chuyên gia ô tô, cựu Tổng Thư ký VAMA. Ảnh: NVCC.
Ô tô là phương tiện vận tải đường bộ có gắn động cơ dùng để vận chuyển hàng hóa và hành khách (con người). Khi tham gia giao thông, ô tô có thể chuyển động đến tốc độ khá cao, có thể lên đến 120 Km/h.
Để bảo đảm an toàn giao thông và bảo vệ môi trường, ô tô phải đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật nhất định quy định trong các Quy chuẩn Việt Nam (QCVN) có liên quan. Để sản xuất ra ô tô đạt được các yêu cầu kỹ thuật này, các nhà sản xuất-lắp ráp ô tô và các nhà sản xuất chi tiết - tổng thành và phụ tùng ô tô phải có các cơ sở vật chẩt, nguồn nhân lực và phương pháp quản lý, đặc biệt là quản lý chất lượng, phù hợp.
Để bảo đảm vấn đề kỹ thuật xe ô tô, ngày 30/12/2015, Bộ Giao thông Vận tải (nay là Bộ Xây dựng) đã ban hành QCVN 09:2015/BGTVT quy định về chất lượng an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường đối với xe ô tô. Sau đó, năm 2017, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị định số 116/2016/NĐ-CP ngày 17/10/2017 quy định về điều kiện sản xuất, lắp ráp, nhập khẩu và kinh doanh dịch vụ bảo hành, bảo dưỡng và sửa chữa ô tô.
Trước đề xuất sẽ xem xét đưa ngành sản xuất, lắp ráp, nhập khẩu và kinh doanh bảo hành - bảo dưỡng và sửa chữa ô tô ra khỏi nhóm ngành kinh doanh có điều kiện, theo quan điểm của tác giả bài viết này, Bộ Công Thương không nên loại bỏ các điều kiện sản xuất kinh doanh đối với nhóm ngành sản xuất, lắp ráp, nhập khẩu và kinh doanh dịch vụ bảo hành - bảo dưỡng và sửa chữa ô tô.
Lý do của đề xuất này như sau:
Thứ nhất là việc sản xuất - lắp ráp ô tô là một quá trình phức tạp, từ khâu chế tạo chi tiết-tổng thành, hàn khung & thân vỏ xe, sơn tĩnh điện (sơn ED) khung xe, sơn ED và sơn mầu thân vỏ xe, lắp ráp xe, kiểm tra và chạy thử xe. Các công đoạn nói trên được thực hiện với các trang thiết bị phù hợp.
Nếu không có quy định cụ thể, sẽ có thể xẩy ra tình trạng nhà sản xuất-lắp lắp bỏ qua hoặc không thực hiện đầy đủ các công việc cần thiết để bảo đảm chất lượng ô tô sau khi sản xuất-lắp ráp. Vẫn biết rằng sau khi sản xuất lắp ráp, sẽ có cơ quan chức năng kiểm tra xe và cấp giấy chứng nhận chất lượng. Tuy nhiên, không có chuyện một nhà máy với trang thiết bị sản xuất sơ sài, thậm chí không có thì không thể cho ra được sản phẩm ô tô đạt chất lượng theo QCVN. Điều này ảnh hưởng xấu đến người tiêu dùng ô tô và an toàn khi sử dụng xe.
Robot sơn linh kiện nhựa. Ảnh: THACO.
Thứ hai là nếu bỏ các điều kiện sản xuất-lắp ráp ô tô thì dễ xẩy ra tình trạng “người người làm ô tô, nhà nhà làm ô tô”. Hậu quả là sản phẩm ô tô làm ra sẽ kém chất lượng, ảnh hưởng đến người tiêu dùng ô tô. Điều này đặc biệt nghiêm trọng khi xảy ra tai nạn trong thời gian vận hành ô tô vì lý do lỗi kỹ thuật.
Thứ ba, nếu bỏ các điều kiện kinh doanh bảo hành-bảo dưỡng ô tô đồng nghĩa với việc các trạm bảo hành-bảo dưỡng ô tô không được trang bị đầy đủ các trang thiết bị cần thiết để thực hiện công việc. Hậu quả là người tiêu dùng không có nơi tin cậy để bảo dưỡng sửa chữa ô tô của mình. Điều này ảnh hưởng tiêu cực đến quyết định mua xe của khách hàng. Và vì thế nhà sản xuất ô tô cũng sẽ gặp khó khăn trong kinh doanh ô tô.
Thứ tư, nếu bỏ các điều kiện nhập khẩu ô tô, trong đó bỏ điều kiện phải có trạm bảo hành-bảo dưỡng ô tô thì: Một mặt, các nhà nhập khẩu ô tô sẽ rất khó bán được xe cho người tiêu dùng vì lý do đã nêu trên. Mặt khác, ô tô nhập khẩu sẽ ồ ạt vào thị trường Việt Nam và hậu quả là gây khó khăn cho các nhà sản xuất lắp ráp ô tô trong nước.
Lý do thứ ba và thứ tư sẽ làm giảm thị sức mua ô tô lắp ráp trong nước của thị trường ô tô Việt Nam.
Thứ năm, khi không còn điều kiện kinh doanh và sức mua thị trường trong nước của ô tô lắp ráp trong nước suy giảm thì các nhà sản xuất lắp ráp ô tô trong nước sẽ không đầu tư mạnh vào trang thiết bị nhà máy. Hậu quả là ngành công nghiệp ô tô Việt Nam nói chung sẽ suy yếu và không cạnh tranh được với ngành công nghiệp ô tô trong khu vực và trên thế giới.
Một số đề xuất để phát triển ngành công nghiệp ô tô Việt Nam
Ảnh minh họa: TC Group.
Ngành công nghiệp ô tô của một quốc gia bao gồm các tổ chức và doanh nghiệp tham gia vào một hoặc nhiều công việc sau: 1). Sản xuất vật liệu, chi tiết, tổng thành (cụm chi tiết) và phụ tùng ô tô. Các công việc này gọi là Công nghiệp hỗ trợ ô tô; 2). Lắp ráp và cải tạo (hoán cải) ô tô;3). Nhập khẩu & kinh doanh (bán) ô tô; 4). Làm công tác nghiên cứu và phát triển công nghệ-kỹ thuật-thị trường ô tô (công việc R&D); 5). Làm công việc dịch vụ sau bán hàng ô tô (sửa chữa, bảo dưỡng, bảo hành và cung cấp phụ tùng ô tô; 6). Đào tạo nguồn nhân lực từ bậc Công nhân kỹ thuật cho đến bậc Tiến sỹ phục vụ cho các công việc (1),(2),(3),(4) và (5) nói trên.
Các chỉ tiêu đánh giá sự phát triển ngành công nghiệp ô tô của một quốc gia bao gồm: a). Mức độ đóng góp của ngành công nghiệp ô tô vào tổng sản phẩm quốc nội GDP (tính theo % GDP);b). Số lượng việc làm ngành công nghiệp ô tô tạo ra cho xã hội (Triệu việc làm); c). Tỷ lệ nội địa hóa ô tô sản xuất lắp ráp trong nước (%); và d).Tỷ lệ đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước của ngành công nghiệp ô tô (%).
Hiện nay chưa có báo cáo đánh giá theo các tiêu chí nói trên của ngành công nghiệp ô tô Việt Nam. Tuy nhiên, theo đánh giá của Tác giả, các chỉ tiêu này của ngành công nghiệp ô tô Việt Nam còn khá khiêm tốn. Cả nước hiện nay chỉ có khoảng 100 nhà cung cấp Cấp 1 (TIER1) và 150 nhà cung cấp Cấp 2 và 3 (TIER2 và TIER3) cho các nhà sản xuất-lắp ráp ô tô. Tỷ lệ nội địa hóa ô tô con (ô tô du lịch) trung bình khoảng 20% (trừ trường hợp ô tô con Vinfast) và ô tô tải & ô tô khách trung bình là 45%. Muốn phát triển được nghành công nghiệp ô tô Việt Nam, Tác giả có một ba đề xuất sau đây:
Phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ ô tô. Việc này có thể thực hiện bằng các biện pháp: Hỗ trợ và khuyến khích các nhà sản xuất lắp ráp ô tô trong nước sử dụng các chi tiết tổng thành ô tô sản xuất trong nước. Giải pháp đề xuất là: Thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB) và lệ phí trước bạ ô tô con (chiếm khoảng 70% thị phần thị trường ô tô) sẽ giảm dần theo tỷ lệ nội địa hóa ô tô. Khi tỷ lệ nội địa hóa ô tô con là 40% trở lên thì thuế TTĐB và lệ phí trước bạ là 0%.
Phát triển thị trường tiêu thụ ô tô trong nước bằng cách: Phát triển hạ tầng giao thông động (hệ thống đường xá) và giao thông tĩnh (bãi đỗ xe ô tô); Giảm thuế TTĐB & lệ phí trước bạ như đã nêu ở trên. Tính đến cuối năm 2025, GDP đầu người của Việt Nam đạt khoảng USD 5.000 / người và dân số khoảng 102 Triệu người. Số lượng ô tô trên 1.000 của Việt Nam khoảng 65 xe / 1.000 dân, thấp hơn nhiều so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Các số liệu trên cho thấy thị trường ô tô Việt Nam còn rất nhiều tiềm năng để phát triển.
Sớm ban hành “Chiến lược phát triển ngành công nghiệp ô tô Việt Nam đến năm 2035 với tầm nhìn đến năm 2045”. Điều này rất quan trọng vì khi chiến lược này được ban hành, các doanh nghiệp trong ngành công nghiệp ô tô sẽ có định hướng, lên kế hoạch và thực hiện đầu tư để phát triển doanh nghiệp của mình. Bằng cách đó, ngành công nghiệp ô tô Việt Nam sẽ phát triển.
Ông Vũ Tấn Công - Chuyên gia ô tô, cựu Tổng Thư ký VAMA