Băn khoăn về đề xuất liên quan đến phạt cọc của TAND Tối cao

Băn khoăn về đề xuất liên quan đến phạt cọc của TAND Tối cao
19 phút trướcBài gốc
TAND Tối cao đang dự thảo Nghị quyết hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết tranh chấp về đặt cọc.
Theo khoản 3 Điều 6 của dự thảo, “trường hợp bên đặt cọc và bên nhận đặt cọc thỏa thuận mức tiền phạt cọc vượt quá giá trị của hợp đồng nếu được giao kết hoặc thực hiện thì Tòa án quyết định theo mức mà các bên đã thỏa thuận”.
Liên quan đến nội dung này, nhiều chuyên gia bày tỏ băn khoăn.
Phải đảm bảo lẽ công bằng
Luật sư Ngô Việt Bắc (Đoàn Luật sư TP.HCM)
Luật sư Ngô Việt Bắc (Đoàn Luật sư TP.HCM) cho rằng đây là bước đi thể hiện xu hướng đề cao nguyên tắc tự do hợp đồng, nhưng đồng thời đặt ra câu hỏi lớn: liệu sự tự do này có vượt qua ranh giới của lẽ công bằng?
Trước hết, cần khẳng định nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận là nền tảng cốt lõi của pháp luật dân sự hiện đại. Bộ luật Dân sự 2015 đã ghi nhận rõ tinh thần này khi cho phép các bên tự do xác lập, thực hiện và chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự, miễn là không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội.
Tuy nhiên, pháp luật không chỉ ghi nhận ý chí của các bên mà còn có vai trò bảo vệ sự công bằng trong xã hội. Nếu một thỏa thuận, dù tự nguyện, nhưng dẫn đến hậu quả quá bất cân xứng, vượt quá khả năng chịu đựng thông thường của một bên, thì liệu pháp luật có nên đứng ngoài chỉ vì đó là ý chí của các bên?
Trong thực tế, không phải mọi chủ thể tham gia giao dịch đều có vị thế ngang nhau. Có người am hiểu pháp luật, nhưng cũng có rất nhiều người thiếu kiến thức, ký vào hợp đồng đặt cọc với suy nghĩ đơn giản rằng nếu không thực hiện thì chỉ mất tiền cọc. Khi điều khoản phạt cọc được thiết lập ở mức gấp 20, 50 lần... thì sự tự nguyện về hình thức chưa chắc phản ánh sự tự nguyện về nhận thức. Nếu áp dụng tuyệt đối nguyên tắc tự do hợp đồng, pháp luật có thể vô tình hợp pháp hóa những điều khoản bất cân xứng, thậm chí mang tính “cài bẫy”.
Đáng lo ngại hơn, dự thảo dường như dịch chuyển vai trò của Tòa án từ cơ quan có quyền cân bằng lợi ích sang cơ quan chỉ “xác nhận thỏa thuận”. Trong thực tiễn xét xử trước đây, Tòa án thường xem xét tính hợp lý của điều khoản phạt cọc dựa trên các nguyên tắc như thiện chí, trung thực, không lạm dụng quyền và không trái đạo đức xã hội. Điều này cho phép can thiệp khi sự chênh lệch giữa nghĩa vụ và hậu quả trở nên quá lớn, gây bất công rõ rệt.
Trong một xã hội pháp quyền, tự do và công bằng không thể tách rời. Công bằng không đơn thuần là việc “đã ký thì phải chịu”, mà là hệ quả của thỏa thuận có tương xứng với bản chất giao dịch hay không. Vấn đề không phải chọn một trong hai, mà là tìm điểm cân bằng giữa chúng. Và chính điểm cân bằng đó mới là mục tiêu pháp luật cần hướng tới.
Từ đó, luật sư Ngô Việt Bắc đề xuất Tòa án nên có cơ chế kiểm soát, chẳng hạn đặt ra mức trần phạt cọc hoặc trao quyền cho Thẩm phán đánh giá, điều chỉnh trong trường hợp mức phạt vượt quá giới hạn hợp lý. Đồng thời, cần xây dựng tiêu chí cụ thể để xác định “mức hợp lý”, nhằm bảo đảm tính thống nhất trong xét xử và hạn chế sự phụ thuộc vào nhận định chủ quan.
Nên chăng cần đặt ra mức trần phạt cọc nhằm đảm bảo cân bằng giữa tự do và công bằng. Ảnh minh họa/AI
Cần dựa trên ba luận điểm cốt lõi
Luật sư Hồ Bảo (Đoàn Luật sư TP.HCM)
Ở góc nhìn khác, Luật sư Hồ Bảo (Đoàn Luật sư TP.HCM) cho rằng khoản 3 Điều 6 dự thảo thể hiện sự tôn trọng nguyên tắc “đã cam kết thì phải thực hiện” trong luật hợp đồng. Về lý luận, cách tiếp cận này phù hợp với tinh thần tự do, tự nguyện thỏa thuận của Bộ luật Dân sự 2015.
Tuy nhiên, nếu không kiểm soát giới hạn mức phạt cọc, thực tiễn xét xử sẽ tiềm ẩn nhiều rủi ro. Quy định này có thể hạn chế quyền xét xử theo lẽ công bằng của Thẩm phán. Một thỏa thuận phạt cọc gấp hàng chục, hàng trăm lần giá trị hợp đồng không chỉ làm sai lệch bản chất của biện pháp bảo đảm mà còn vi phạm nguyên tắc thiện chí, trung thực trong giao dịch dân sự.
Từ những phân tích trên, có thể thấy dự thảo cần điều chỉnh để dung hòa giữa tự do định đoạt và bảo vệ công bằng xã hội. Dù pháp luật dân sự cho phép tự do thỏa thuận, nhưng mọi sự tự do đều phải phù hợp với nguyên tắc cơ bản như thiện chí, không trái đạo đức xã hội.
Theo quy định hiện hành, Thẩm phán có thể tuyên vô hiệu phần phạt cọc quá mức, không tương xứng với giá trị hợp đồng và thiệt hại, nhằm bảo đảm công bằng. Luật sư Hồ Bảo nhấn mạnh, sự can thiệp hợp lý này không làm mất đi tính răn đe của chế định đặt cọc, mà ngược lại, giúp ngăn chặn các thỏa thuận mang tính bóc lột, đưa pháp luật Việt Nam tiệm cận với chuẩn mực quốc tế và bảo đảm nguyên tắc không ai được làm giàu từ tổn thất của người khác.
PGS-TS Vũ Thị Hồng Yến, Trưởng khoa Luật Trường Đại học Sài Gòn
Ở góc độ học thuật, PGS-TS Vũ Thị Hồng Yến, Trưởng khoa Luật Trường Đại học Sài Gòn, cho rằng biện pháp đặt cọc cần dựa trên ba luận điểm cốt lõi.
Thứ nhất, đặt cọc là biện pháp bảo đảm mang tính phụ thuộc. Theo logic pháp lý, phạm vi bảo đảm không thể vượt quá nghĩa vụ chính. Khi hợp đồng được giao kết, tiền đặt cọc trở thành một phần thanh toán, do đó phải nằm trong tổng giá trị hợp đồng. Việc cho phép phạt cọc vượt giá trị hợp đồng sẽ đảo lộn quan hệ “phụ - chính”, đi ngược bản chất của chế định này.
Thứ hai, cần ngăn ngừa sự lạm dụng quyền tự do hợp đồng. Nếu không giới hạn mức phạt, bên nhận cọc có thể lợi dụng để chiếm dụng vốn hoặc biến tướng đặt cọc thành “tín dụng đen” với lãi suất ngầm thông qua chế tài phạt. Thực tế, Luật Kinh doanh bất động sản 2023 đã giới hạn mức đặt cọc không quá 5% nhằm bảo vệ bên yếu thế và đảm bảo minh bạch thị trường.
Thứ ba, phải bảo đảm tính tương xứng của chế tài. Phạt cọc vốn đã mang tính răn đe và bồi thường định sẵn. Mức phạt bằng 100% tiền cọc đã đủ tạo áp lực kinh tế để ngăn vi phạm. Việc nâng mức phạt vượt quá lợi ích kỳ vọng từ hợp đồng là không cần thiết, thiếu tính kinh tế và dễ gây tranh chấp phức tạp.
Từ đó, PGS-TS Vũ Thị Hồng Yến kiến nghị cần xác lập “ngưỡng chặn” cho mức phạt cọc, theo đó số tiền đặt cọc và mức phạt không được vượt quá giá trị của hợp đồng dự định giao kết hoặc thực hiện, nhằm bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật và trật tự giao dịch dân sự.
Các nước quy định ra sao
Có hướng chung của các hệ thống pháp luật hiện đại là cho phép cơ quan tư pháp can thiệp khi các thỏa thuận vượt quá giới hạn đạo đức và công bằng.
Tại Pháp, Điều 1231-5 Bộ luật Dân sự cho phép Thẩm phán chủ động giảm mức phạt vi phạm nếu khoản tiền không tương xứng với thiệt hại, kể cả khi đương sự không yêu cầu.
Tại Trung Quốc, Điều 586 Bộ luật Dân sự quy định mức đặt cọc không được vượt quá 20% giá trị nghĩa vụ chính; phần vượt quá không có hiệu lực.
Ngay cả trong hệ thống Thông luật như Anh, Mỹ, nơi đề cao tự do hợp đồng, các tòa án vẫn bác bỏ các điều khoản mang tính trừng phạt, coi đó là vô hiệu nếu vượt quá mục đích bù đắp thiệt hại hợp lý.
Luật sư HỒ BẢO, Đoàn Luật sư TP.HCM
2 luồng quan điểm
Theo cơ quan soạn thảo, hiện có hai luồng quan điểm về việc có chấp nhận mức phạt cọc vượt quá giá trị hợp đồng được đảm bảo hay không.
Quan điểm thứ nhất cho rằng trường hợp này Tòa án quyết định theo mức mà các bên đã thỏa thuận.
Đây là quan điểm dựa trên các quy định của Bộ luật Dân sự: về hạn chế quyền dân sự (khoản 2 Điều 2); nguyên tắc tự do cam kết thỏa thuận của các bên trong hợp đồng (khoản 2 Điều 3); thực hiện quyền dân sự (khoản 1 Điều 9).
Theo đó Bộ luật Dân sự không cấm và không có giới hạn về mức phạt cọc mà các bên trong hợp đồng có thể thỏa thuận (khoản 2 Điều 328), không giới hạn về mức phạt vi phạm hợp đồng (khoản 2 Điều 418) nên Tòa án cần tôn trọng quyền tự do thỏa thuận của các bên và quyết định phạt cọc đúng theo thỏa thuận.
Quan điểm thứ hai cho rằng trường hợp bên đặt cọc và bên nhận đặt cọc thỏa thuận mức tiền phạt cọc vượt quá giá trị của hợp đồng nếu được giao kết hoặc thực hiện thì Tòa án quyết định theo mức mà các bên đã thỏa thuận. Nếu bên bị phạt cọc chứng minh được không có khả năng chi trả thì Tòa án chấp nhận mức phạt cọc phù hợp với khả năng chi trả của bên bị phạt cọc nhưng tối thiếu phải tương đương với giá trị tài sản đặt cọc.
Đây là quan điểm cho rằng mặc dù Bộ luật Dân sự không giới hạn về mức phạt cọc các bên có thể thỏa thuận tuy nhiên xét trên khía cạnh xã hội, để đảm bảo cho sự lành mạnh và công bằng trong giao lưu dân sự thì việc không giới hạn này là chưa thật sự phù hợp.
Bằng việc thỏa thuận mức phạt cọc cao gấp nhiều lần tài sản đặt cọc, các bên trong thỏa thuận đặt cọc có thể lợi dụng phương thức này nhằm che dấu giao dịch khác (ví dụ: hợp đồng cho vay nặng lãi, thỏa thuận nhằm chuyển quyền sở hữu tài sản để trốn tránh nghĩa vụ đối với người thứ ba...), lợi dụng sự thiếu hiểu biết của một bên để quy định điều khoản phạt cọc cao nhằm chuộc lợi... nên việc giới hạn mức phạt cọc là yêu cầu khách quan.
Để bảo vệ cho các đối tượng yếu thế trong xã hội khi tham gia giao dịch dân sự, tránh việc họ bị bên còn lại lợi dụng sự thiếu hiểu biết để giao kết các thỏa thuận đặt cọc không bình đẳng, trong trường hợp bên bị phạt cọc chứng minh được việc mình không có khả năng chi trả thì Tòa án chấp nhận mức phạt cọc phù hợp với khả năng chi trả của bên bị phạt cọc nhưng tối thiếu phải tương đương với giá trị tài sản đặt cọc là mức phạt cọc cơ bản theo luật định.
Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học đang dự thảo theo quan điểm thứ nhất tại khoản 3 Điều 6 của dự thảo Nghị quyết.
NGUYỄN CHÍNH
Nguồn PLO : https://plo.vn/ban-khoan-ve-de-xuat-lien-quan-den-phat-coc-cua-tand-toi-cao-post904880.html