Cựu chiến binh Lê Hùng Mậu, Lê Thiêm Hóa kể chuyện thời chiến tranh với Trưởng thôn Bàn Thạch 4 Lê Xuân Quang.
1. Làng Bàn Thạch, xưa là trang La Đá thuộc huyện Cổ Lôi, Châu Ái, có lịch sử trên 1.000 năm, từ ngày “Bạch địa triệu khai căn bản cố” do ông Hạm Huệ Trung khai khẩn lập nghiệp. Xét về mặt phong thủy, trang La Đá thuận về mọi điều kiện. Mặt tiền lấy Na Sơn làm án, phía tả lấy Trẩu Sơn làm thế dựa, phía hữu lấy cánh đồng Ngâu làm minh đường tích thủy, phía sau thủy nhiễu (xung quanh nước chảy tròn)...
Sau này, nhiều lần vua Lê Thái Tổ tiến binh, nhờ thần Cao Sơn, thành hoàng làng hiển linh giúp đỡ mà thắng trận. Chính ông đã nói: La Đá có nghĩa là Bàn Thạch. Từ đó, cái tên làng Bàn Thạch được giữ đến ngày nay.
Ngoài ra, 4 hướng của trang có yểm 4 ông thần linh: phía Đông là ông Bình, phía Bắc là ông Hạc, phía Nam là ông Phặn, và phía Tây là ông Học, còn ở cổng thì yểm ông Cổng nhằm giữ trang ấp yên ổn, trộm cướp, giặc giã không vào được để con cháu sinh sôi nảy nở thịnh vượng muôn đời.
Ở vùng đất bán sơn địa, làng Bàn Thạch xưa có nhiều cây to, có cây hàng ngàn năm tuổi như cây đa Sun, cây đa Khua Cốc, cây đa ông Học, cây gạo Mà Ha, cây thông ở nghè thờ ngài Cao sơn, cây thị ở Giáp Trung... Xung quanh là những hồ nước, làng như một đảo nổi “mặt trước làng có mau trước, mặt sau làng có mau sau”. Bàn Thạch có thế đất rồng bay nhả ngọc, trên lưng rồng cõng 21 thế đất hình con dơi, có long mạch chủ từ Long Hồ được thông nối với dòng Lương Giang (sông Chu)... nên người tài giỏi đất này không bao giờ thiếu.
Đặc biệt, nơi đây còn được gọi là đất 3 lăng - an táng của 3 vị vua nhà Hậu Lê, gồm: Lê Dụ Tông, Lê Hiển Tông và Lê Mẫn Đế. Đất thiêng sinh hào kiệt. Biết bao nhà văn hóa, nhà quân sự đã được đất làng Bàn Thạch dung dưỡng để phát triển.
Làng Bàn Thạch xưa nay đã được tách ra thành 5 thôn, thuộc xã Sao Vàng, tỉnh Thanh Hóa. Quá trình tách nhập có nhiều đổi thay, song với Nhân dân trong làng, cái tên Bàn Thạch không bao giờ thay đổi, vì đó vừa là niềm tin vừa là tính cách con người, để trong bất cứ hoàn cảnh nào họ cũng vươn lên vững chãi như bàn đá.
2. Khi thực dân Pháp xâm lược và cai trị nước ta, do lợi ích kinh tế, thực dân Pháp kết hợp với chính quyền phong kiến bản địa làm thay đổi hình dáng thôn, làng toàn quốc. Đối với làng Bàn Thạch, do Pháp làm đập Bái Thượng đắp đoạn sông chảy qua Bàn Thạch, nên hình dáng, địa danh cũng đổi thay nhiều so với trước đây.
Song truyền thống yêu nước đã chảy trong mạch máu mỗi người dân. Ngay từ khi chưa có Đảng lãnh đạo, ở đây đã có nhiều tấm gương yêu nước tự vùng lên đấu tranh. Thời Văn thân có ông Lê Huy Luận đã tham gia đội quân của ông Cầm Bá Thước để đánh Pháp. Và còn biết bao nhiêu thanh niên trai tráng rời quê hương, gia nhập quân đội chủ lực, trực tiếp cầm súng chiến đấu trên các chiến trường, trong đó có chiến trường Điện Biên Phủ ác liệt; những nữ dân công không quản ngại khó khăn, băng rừng vượt suối, gánh gồng lương thực, vũ khí, đạn dược tiếp tế cho bộ đội.
Cuộc kháng chiến chống Pháp vừa dứt thì người dân đất Việt, trong đó có người làng Bàn Thạch lại tiếp tục tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
Tính chung trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, làng Bàn Thạch có 641 người tham gia lực lượng quân đội. “Trong rất nhiều đợt tuyển quân, nhưng có một đợt không bao giờ quên là vào ngày 2/9/1965 có 8 người ưu tú của làng khi vào quân đội được huấn luyện, biên chế ngay vào đơn vị pháo phòng không và trực tiếp tham gia chiến đấu bắn máy bay Mỹ để bảo vệ cầu Hàm Rồng. Những năm tháng đó, suốt ngày đêm máy bay Mỹ thay nhau liên tục ném bom, nhất là trong 2 ngày 3 - 4/4/1965, Mỹ điên cuồng đánh phá cả ngày đêm vào cầu Hàm Rồng. Trong các trận đánh lịch sử này, 8 người con của làng Bàn Thạch biên chế trực tiếp tham gia chiến đấu trong trận địa pháo phòng không tại đồi C4, gồm: ông Lê Huy Hợp, ông Lê Huy Định ở giáp Đăng; ông Lê Văn Tĩnh ở giáp Trung; ông Lê Xuân Diệu, Lê Xuân Lộc, Lê Xuân Giang ở giáp Yên; ông Lê Xuân Thanh, Lê Xuân Thịnh ở giáp Thượng”, cựu chiến binh Lê Xuân Thanh nhớ lại.
Có 2 trận đánh với quân địch mà ông Lê Xuân Thanh không thể nào quên trong cuộc đời mình. Đó là trận đánh ngày 3/9/1967 và ngày 18/11/1967, dù bị thương nhưng ông vẫn bám trụ tại mâm pháo ngắm bắn vào mục tiêu địch đến khi quân Mỹ cho máy bay ngừng vào trận địa Hàm Rồng.
Không những thế, trong tình thế bị thương nặng, ông Thanh một mình dập lửa ngăn không cho cháy lan sang kho đạn. Ngay sau trận đánh, ông đã trở thành chiến sĩ quyết thắng toàn quân và nhận Huân chương kháng chiến hạng Nhì; được đại diện cho lực lượng pháo phòng không bộ đội ở khu vực Hàm Rồng gặp Bác Hồ năm 1968 ở Phủ Chủ tịch.
Ngoài ra, trong làng còn có tới 150 thanh niên xung phong tình nguyện phục vụ cho nhiệm vụ chiến đấu ở các chiến trường; 95 người tham gia xe đạp thồ và vận chuyển bằng thuyền nan; 29 người tham gia dân công ở các binh trạm, kho trạm trên mọi nẻo đường rừng Trường Sơn.
Những năm tháng ác liệt ấy, thanh niên trai tráng lên đường nhập ngũ, người ở lại hậu phương ra sức lao động sản xuất. Là địa phương có mục tiêu kinh tế (Nhà máy Thủy điện Bàn Thạch), trọng điểm đánh phá của máy bay Mỹ, mỗi người dân Bàn Thạch quyết không nao núng, giương cao súng nhằm thẳng máy bay Mỹ mà bắn. Để bảo vệ Nhà máy Thủy điện Bàn Thạch, địa phương đã tổ chức 3 trung đội dân quân bắn máy bay Mỹ gồm: một trung đội dân quân bắn bằng súng trường CKC, súng trường K44, trận địa bố trí ở nghĩa địa Biên Chừa; một trung đội dân quân bắn bằng súng trung liên, đại liên, súng máy 12 ly 7, được bố trí bên bờ sông nông giang; một trung đội dân quân pháo cao xạ 37 ly trận địa bố trí ở đồng Mẻo, đồng ông Hạc.
Theo lời kể của tác giả Lê Quốc Ấm trong cuốn sách Địa chí văn hóa làng Bàn Thạch xã Xuân Quang: Đó là khoảng 4 giờ chiều ngày 22/7 âm lịch năm 1967, máy bay Mỹ đánh bom sát hại 14 người dân đang làm lúa tại cánh đồng Cổ Kiêu. Nỗi đau ấy càng khiến người dân trong làng quyết tâm bắn rơi máy bay Mỹ. Hiện nay, trên cánh đồng Cổ Kiêu (thôn Bàn Thạch 1) đã lập bia để hương nhang tưởng niệm, coi đây là nghĩa cử đầy tính nhân văn, là nét đẹp văn hóa và là nơi để giáo dục truyền thống yêu nước, yêu quê hương cho thế hệ trẻ hôm nay và mai sau.
Nhớ lại ngày đầu tiên cùng với 12 thanh niên trong làng lên đường nhập ngũ, cựu chiến binh Lê Hùng Mậu, thôn 4 cho biết: Tháng 9/1967 chúng tôi cùng lên đường đi B. Thời gian trôi qua thật nhanh, đến nay chỉ còn 3 người sống là tôi, ông Lê Xuân Dương, và Đặng Văn Thắng.
Sau khi đi vào chiến đấu ở miền Đông Nam Bộ thuộc quân số trung đoàn 2, Sư đoàn 9, đến năm 1970 ông bị thương. Chiếc chân phải của ông mãi mãi bỏ lại ở miền Nam và ông được đưa ra Bắc vào ngày 31/12/1972. “Tôi may mắn chỉ mất một bên chân, đồng đội tôi, trong số đó có những người làng tôi, đã hy sinh trước ngày hòa bình. Năm nào cũng vậy, càng gần đến ngày giải phóng miền Nam tôi càng nhớ đồng đội”, ông Mậu cho biết thêm. Thời gian thấm thoắt thoi đưa, ông thương binh hạng 2, Lê Hùng Mậu nay cũng đã 76 tuổi.
Ngồi trò chuyện cùng chúng tôi còn có đại úy Lê Thiêm Hóa – thành viên của Sư đoàn 3 Sao Vàng (Đoàn Sao Vàng) - đơn vị nổi tiếng với tinh thần thép, lập chiến công vang dội. 14 năm chiến đấu, ông Hóa nhớ rõ nhất là tinh thần dũng cảm sẵn sàng hy sinh của đồng đội: “Lúc đó những chàng trai như chúng tôi không biết sợ chết là gì, chỉ duy nhất một tinh thần chiến đấu hết mình”.
Sau 2 cuộc chiến tranh, làng Bàn Thạch đã có 105 liệt sĩ, 78 thương binh, 48 bệnh binh. Đối với những người lính như ông Lê Xuân Thanh, ông Lê Hùng Mậu, Lê Thiêm Hóa... đó không chỉ là sự hy sinh mà còn là niềm tự hào. Tự hào vì họ đã được sinh ra lớn lên và trở về sống trên mảnh đất anh hùng.
Bài viết có sử dụng tư liệu trong sách: Địa chí văn hóa làng Bàn Thạch xã Xuân Quang, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa, Lê Quốc Ấm, NXB Thanh Hóa, 2019.
Bài và ảnh: Kiều Huyền